Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh sốt rét 1. Một số đặc điểm chủ yếu của bệnh sốt rét Định nghĩa bệnh sốt rét Sốt rét là bệnh truyền nhiễm gây nên bởi ký sinh trùng (KST) Plasmodium (P). Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường máu và do muỗi Anopheles truyền.
Các triệu chứng điển hình của bệnh bao gồm: rét run, sốt, và vã mồ hôi.(10) Ký sinh trùng sốt rét Tại Việt Nam tồn tại 5 loài ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) gây bệnh sốt rét, nhưng có 4 loài thường gặp là P.knowlesi là một loài KSTSR truyền từ khỉ sang người(10). Một số khái niệm sử dụng trong luận văn này. Kiến thức: Là sự hiểu biết do việc tìm hiểu thông tin, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm, thông qua giáo dục hay tự học hỏi, tìm hiểu (10). Kiến thức về phòng chống sốt rét (PCSR) bao gồm: nguyên nhân mắc sốt rét, triệu chứng của bệnh, thời điểm muỗi sốt rét đốt người, bệnh sốt rét có nguy hiểm tính mạng, phương pháp phòng chống bệnh sốt rét(11).
Thái độ: Là một trạng thái cảm xúc thể hiện thành hành vi của con người. Thái độ đúng về PCSR bao gồm: thái độ đúng về màn tẩm, phun hóa chất PCSR, tin rằng thường xuyên ngủ màn là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng chống được bệnh sốt rét, đồng ý với biện pháp diệt trừ bọ gậy, lăng quăng sẽ giảm được muỗi truyền bệnh sốt rét (10). Thực hành: Là vận dụng các kĩ năng, kiến thức đã tiếp thu vào việc giải quyết những tình huống, những vấn đề cụ thể (10). Thực hành đúng về PCSR bao gồm: thực hành đúng ngủ màn, mang màn hoặc võng có màn và thuốc men dự phòng khi đi qa đêm trong rừng rẫy, vệ sinh nhà cửa (11).
Dân di biến động (DDBĐ): Tại Việt Nam hiện nay thì vẫn chưa có định nghĩa nào rõ ràng về DDBĐ. Trong các báo cáo hoặc các nghiên cứu của lĩnh vực sốt rét đang sử dụng định nghĩa về quần thể DDBĐ là gồm “nhóm dân di cư” và “nhóm dân di động (12). Di cư: Là sự di chuyển từ đơn vị hành chính này đến cư trú ở đơn vị hành chính khác; 5 (12). Người đi rừng, ngủ rẫy: Là những người thường xuyên có các hoạt động đi vào rừng và ở lại rẫy mưu sinh (12).
Ngủ rừng/rẫy: Là hoạt động ngủ lại qua đêm ở trong rừng/rẫy. Kinh tế hộ gia đình: Áp dụng theo “Quyết định về việc ban hành chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 cho khu vực nông thôn”(46). Trong đó: + Hộ nghèo: “Là hộ gia đình có mức thu nhập từ 700.000 đồng trở xuống tính theo bình quân đầu người/tháng hoặc có thu nhập trên 700.000 đồng tín theo đầu người/tháng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên” + Hộ cận nghèo: “Là hộ gia đình có mức thu nhập trên 700.000 đồng tính theo bình quân đầu người/tháng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản”. Hộ trung bình, khá giả, giàu: “Hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 1.000 đồng trở lên” Đủ màn: theo quy định “Số người trong gia đình/Số màn của gia đình ĐTNC ≤ 2” (47).
Thực hành PCSR: Theo khuyến cáo của chương trình PCSR Quốc gia là thực hiện 02 biện pháp gồm: Thực hành về dự phòng bệnh và thực hành về phát hiện điều trị, trong đó dự phòng bệnh là thực hiện biện pháp tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức người dân đặc biệt là các nhóm người dân đi rừng ngủ rẫy có nguy cơ cao về sốt rét nhằm giúp họ có những thay đổi hành vi tích cực nhằm hạn chế tiếp xúc trực tiếp với muỗi sốt rét bằng cách thực hiện đúng các biện pháp PCSR (về cá nhân: chú ý thực hiện đầy đủ các biện pháp dùng màn/võng khi đi ngủ, bôi kem xua muỗi hoặc mặc áo dài tay khi vào rừng rẫy và nếu không có công việc thực sự cần thiết thì không ở ngoài nhà, rừng rẫy vào ban đêm. Về cộng đồng: dọn vệ sinh sạch sẽ trong và ngoài nhà nhằm hạn chế môi trường sinh sống của muỗi, phun hóa chất tồn lưu xung quanh nơi ở. Tăng cường hỗ trợ nhóm đối tượng có nguy cơ cao về sốt rét được xét nghiệm chủ động để 6 phát hiện và điều trị bệnh kịp thời, hướng dẫn bệnh nhân dùng đúng thuốc và uống đủ liều, sử dụng thuốc theo đúng phác đồ hướng dẫn của bộ y tế quy định (11) (14). Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc lây truyền bệnh sốt rét.
Yếu tố thời tiết, khí hậu, sinh địa cảnh Có rất nhiều yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến qá trình sinh trưởng và phát triển của muỗi Anopheles và yếu tố thời tiết như nắng, mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm, hướng gió. là một trong số đó. Loài muỗi gây bệnh sốt rét chính ở nước ta bao gồm “An.minimus và An.epiroticus” (còn được gọi là An. Đối với muỗi An.minimus, thời điểm đầu và cuối mùa mưa rất thích hợp với điều kiện sinh trưởng và phát triển của chúng, vì vậy thời điểm này thường cũng là hai đỉnh dịch của những vùng có muỗi An.
Đối với những vùng có muỗi An.dirus điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng phù hợp xuyên suốt mùa mưa vì vậy mà bệnh sốt rét ở những vùng có loài muỗi này cũng thường lan truyền trong thời gian này. Riêng muỗi An.epiroticus khác biệt hơn khi mà thời gian truyền bệnh của chúng là quanh năm. Hiện nay, mùa sốt rét đang có sự thay đổi do sự thích ứng của muỗi sốt rét và sự tác động trực tiếp của con người vào môi trường tự nhiên làm tăng giảm sự tiếp xúc với muỗi truyền bệnh (10, 12). Độ ẩm tương đối quanh năm lớn hơn 80%, rất thích hợp cho môi trường sống và tuổi thọ của muỗi (12, 15).
Sự phân bố sốt rét còn phụ thuộc vào địa hình, thảm thực vật, mối liên quan giữa sự lưu hành sốt rét với sinh địa cảnh được gọi là phân vùng dịch tễ sốt rét (15-17). Một số yếu tố kinh tế Hoạt động phát triển kinh tế của con người tác động rất lớn đến quá trình lây truyền bệnh sốt rét. Những hoạt động sản xuất như xây dựng thuỷ lợi, thuỷ điện, đào ao, xây dựng hồ/đập chứa nước, trồng cây công nghiệp, cấy ruộng bậc thang. làm tăng môi trường sống và sự sinh sản của muỗi.
Các hoạt động mưu sinh của con người như di chuyển tới các vùng rừng tự nhiên để khai thác các sản phẩm từ rừng hay các khoáng sản, du lịch, xây dựng các vùng/đặc khu kinh tế mới., đặc biệt tình trạng dân di cư tự do giữa các vùng có hoặc không có tổ chức với mục đích kinh tế, chính trị quốc phòng, từ những vùng không có nguy cơ tới các vùng có nguy cơ cao dẫn đến tình hình sốt rét càng khó kiểm soát và phức tạp hơn…(15, 18, 19) Điều kiện kinh tế và mức sống hộ gia đình cũng có nhiều tác động trực tiếp hoặc 7 gián tiếp đến quá trình lây lan phát triển của bệnh sốt rét. Ở các vùng rừng núi, vùng sâu xa hẻo lánh điều kiện kinh tế HGĐ khó khăn nghèo đói, nơi ở của người dân thường tạm bợ với nhà cửa chủ yếu bằng vật liệu tranh, tre, nứa, lá,… điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động dự phòng muỗi đối của người dân khi mà môi trường sống của họ không đảm bảo và làm tăng nguy cơ cơ tiếp xúc giữa muỗi với người. Điều kiện kinh tế HGĐ cũng là một trong những vấn đề lớn ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt đối với những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói. Kinh tế khó khăn dẫn đến mức độ tiếp cận với các nguồn thông tin thấp và dịch vụ y tế khó khăn hơn, họ phải làm công việc nặng nhọc và quá sức để tìm kiếm thu nhập cho gia đình, môi trường sống và sinh hoạt của họ cũng thường kém vệ sinh, đặc biệt các nhu cầu chăm sóc sức khoẻ thiết yếu không đảm bảo, họ chỉ đi khám khi bệnh trở nặng.
Điều này khiến công tác điều trị gặp nhiều khó khăn khi mà bệnh phát hiện trễ với các biến chứng và di chứng, việc tuân thủ điều trị bệnh với những người bệnh này cũng găp nhiều khó khăn khi mà họ sử dụng thuốc thường không đủ liều, dừng uống thuốc khi hết sốt và đi làm việc ngay khi mà sức khoẻ chưa hoàn toàn hồi phục…(16, 20). Một số yếu tố xã hội Nghề nghiệp: Các hoạt động liên quan đến rừng rẫy thường có nguy cơ bị mắc sốt rét cao. Những người lao động theo mùa vụ, họ đi từ các khu vực không có sốt rét hoặc trong vùng sốt rét nhẹ di chuyển đến các vùng sốt rét nặng để trông coi hoặc thu hoạch nông lâm sản như cà phê, tiêu, điều, bắp, lúa, hoặc vào rừng lấy mật ong… rất dễ mắc phải sốt rét (16, 19). Văn hoá và trình độ học vấn: Các thói quen sinh hoạt, lối sống, các phong tục tập quán văn hóa từng vùng miền địa phương và cách chăm sóc bảo vệ sức khỏe của những nhóm dân tộc có sự khác biệt và điều này tạo nên sự khác biệt về kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của họ.
Phong tục du canh, du cư của một số dân tộc thiểu số phía bắc, thói quen không dùng màn để ngủ ở một số người đồng bào dân tộc hoặc quan niệm của một số ít người dân tộc khác cho rằng sốt rét là do nước rừng hay ma rừng trừng phạt, vì vậy khi bị bệnh họ có những KAP khác nhau, và họ thường tìm kiếm các loại lá cây, thuốc nam, hoặc làm lễ cúng ma rừng trừ tà đễ chữa bệnh thay vì đi tới các cơ sở y tế(16) .Trình độ học vấn thấp cũng là một rào cản trong việc tìm hiểu các kiến thức về sốt rét cũng như sử dụng các biện pháp PCSR không hiệu quả, điều này dẫn đến ý thức tham 8 gia PCSR của bản thân và của cộng đồng bị hạn chế (21, 22). Công tác thăm khám và điều trị tại các vùng sâu vùng xa, vùng rừng núi gặp nhiều khó khăn, một mặt là do sự phân tán dân cư và địa bàn rộng. Cơ sở vật chất, kinh phí và nhân lực thực hiện hoạt động thì không được đáp ứng đầy đủ. Đội ngũ nhân viên y tế không được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, cập nhật thường xuyên kiến thức về PCSR (19).