Luận văn tốt nghiệp: Đánh giá khả năng xử lý nước thải nuôi tôm từ mô hình đất ngập nước nhân tạo

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp đánh giá khả năng xử lý nước thải nuôi tôm của mô hình đất ngập nước nhân tạo, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Sư Phạm Đà Nẵng

Chuyên ngành

Khoa Hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

54
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về nước nuôi tôm

1.1.1. Nước mặt

1.1.2. Nước thải

1.1.3. Nước nuôi tôm

1.2. Các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động nuôi tôm

1.2.1. Xả thải các chất dinh dưỡng dư thừa

1.2.2. Xả thải thuốc, hóa chất và các bao bì, thùng đựng thuốc và hóa chất

1.2.3. Xả thải mầm bệnh ra ngoài môi trường

1.3. Các thông số đánh giá chất lượng nước thải thủy sản

1.4. Một số phương pháp xử lí được sử dụng cho nước thải thủy sản

1.5. Tổng quan về mô hình đất ngập nước nhân tạo

1.5.1. Phân loại đất ngập nước nhân tạo

1.5.2. Tổng quan xử lí nước thải bằng sậy

1.6. Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng hệ thống đất ngập nước nhân tạo để xử lý nước thải

1.7. Các mô hình đất ngập nước nhân tạo đã được thử nghiệm

1.8. Cơ chế của quá trình xử lý chất ô nhiễm trong hệ thống đất ngập nước

1.9. Các quá trình diễn ra trong hệ thống đất ngập nước

1.10. Các quá trình xử lý chất ô nhiễm trong đất ngập nước nhân tạo

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Xử lý số liệu

2.2. Mô hình thí nghiệm

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Mô hình đất ngập nước kiến tạo

3.2. Lấy mẫu nước

3.3. Phân tích các chỉ tiêu đầu vào của mẫu nước

3.4. Kết quả phân tích các chỉ tiêu đầu ra của mô hình ở thời gian lưu 24h

3.5. Kết quả phân tích các chỉ tiêu đầu ra của mô hình ở thời gian lưu 48h

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nước thải nuôi tôm

Nước thải từ hoạt động nuôi tôm chứa nhiều chất ô nhiễm, bao gồm chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, và các hợp chất nitơ, phốt pho. Theo nghiên cứu, khoảng 63-78% nitơ và 76-80% phốt pho trong thức ăn tôm không được hấp thụ và thải ra môi trường. Điều này dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng cho các nguồn nước xung quanh. Việc xả thải nước nuôi tôm mà không qua xử lý có thể gây ra hiện tượng phú dưỡng, làm giảm chất lượng nước và ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Do đó, việc tìm kiếm các phương pháp xử lý hiệu quả cho nước thải nuôi tôm là rất cần thiết.

1.1. Tác động môi trường của nước thải nuôi tôm

Nước thải từ ao nuôi tôm không chỉ chứa các chất dinh dưỡng dư thừa mà còn có thể chứa mầm bệnh và hóa chất độc hại. Việc xả thải này có thể dẫn đến sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc và làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Các chất thải này có thể gây ra hiện tượng tảo nở hoa, làm giảm lượng oxy trong nước, ảnh hưởng đến sự sống của các sinh vật thủy sinh. Do đó, việc xử lý nước thải là cần thiết để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

II. Mô hình đất ngập nước nhân tạo

Mô hình đất ngập nước nhân tạo là một giải pháp hiệu quả để xử lý nước thải. Hệ thống này sử dụng các loại thực vật như cây sậy để hấp thụ và phân hủy các chất ô nhiễm trong nước. Công nghệ xử lý nước thải này có chi phí vận hành thấp và không yêu cầu kỹ thuật cao, đồng thời thân thiện với môi trường. Việc sử dụng mô hình này không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn tạo ra cảnh quan sinh thái cho khu vực.

2.1. Cơ chế hoạt động của mô hình đất ngập nước

Mô hình đất ngập nước nhân tạo hoạt động dựa trên các quá trình sinh học và vật lý. Các thực vật trong hệ thống giúp hấp thụ chất dinh dưỡng và các chất ô nhiễm, trong khi vi sinh vật trong đất phân hủy các chất hữu cơ. Quá trình này không chỉ làm sạch nước mà còn tạo ra môi trường sống cho các sinh vật khác. Hệ thống này có thể được áp dụng rộng rãi trong việc xử lý nước thải từ các hoạt động nuôi trồng thủy sản.

III. Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải

Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá khả năng xử lý nước thải nuôi tôm bằng mô hình đất ngập nước nhân tạo. Các chỉ tiêu như pH, NH4+, SS, COD, và PO43- được kiểm tra trước và sau khi xử lý. Kết quả cho thấy mô hình này có khả năng giảm đáng kể nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải. Việc áp dụng mô hình này không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

3.1. Kết quả phân tích chất lượng nước

Kết quả phân tích cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải giảm rõ rệt sau khi qua mô hình đất ngập nước nhân tạo. Cụ thể, nồng độ NH4+ giảm từ 5 mg/L xuống còn 1 mg/L, COD giảm từ 100 mg/L xuống còn 20 mg/L. Điều này chứng tỏ rằng mô hình này có hiệu quả trong việc xử lý nước thải nuôi tôm, đồng thời mở ra khả năng ứng dụng cho các khu vực khác.

IV. Kết luận và kiến nghị

Mô hình đất ngập nước nhân tạo đã chứng minh được khả năng xử lý nước thải nuôi tôm hiệu quả. Việc áp dụng công nghệ này không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn bảo vệ môi trường. Cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn để tối ưu hóa mô hình và mở rộng ứng dụng trong thực tiễn. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ từ chính phủ để khuyến khích việc áp dụng công nghệ này trong xử lý nước thải.

4.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần tiến hành các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá hiệu quả lâu dài của mô hình đất ngập nước nhân tạo trong các điều kiện khác nhau. Ngoài ra, việc nghiên cứu các loại thực vật khác có khả năng xử lý nước thải cũng cần được thực hiện để nâng cao hiệu quả xử lý.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nước nuôi tôm 1. Nước mặt Nước mặt là nước phân bố trên mặt đất, nước trong các đại dương, sông, suối, ao hồ, đầm lầy. Đặc điểm của tài nguyên nước mặt là chịu ảnh hưởng lớn từ điều kiện khí hậu và các tác động khác do hoạt động kinh tế của con người; nước mặt dễ bị ô nhiễm và thành phần hóa lý của nước dễ bị thay đổi; khả năng hồi phục trữ lượng của nước nhanh nhất ở vùng thường có mưa.

Nước thải Theo Nghị định số 80/2014/NĐ-CP nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do các hoạt động của con người xả vào hệ thống thoát nước hoặc ra môi trường 1. Nước nuôi tôm [1] Nước nuôi tôm chứa nhiều chất hữu cơ, chất rắn lơ lững, H2S, NH3, vi sinh vật, các hợp chất của N, P… được tạo ra từ quá trình phân hủy chất hữu cơ. Nitơ và phốtpho là những nguyên tố chủ yếu trong chất thải bắt nguồn từ thức ăn. Việc cho thức ăn quá nhiều, nước không ổn định, thức ăn dễ tan, thức ăn khó hấp thu và khả năng duy trì nitơ., là những yếu tố liên quan với nước thải có chứa nhiều nitơ và phôtpho.

Thức ăn thừa-nguyên nhân chính dẫn đến lượng nitơ cao, chiếm tỷ lệ từ 30 - 40%. Có khoảng 63 - 78% nitơ và 76 - 80% photpho cho tôm ăn bị thất thoát vào môi trường. Nitơ dưới dạng protein được tôm hấp thu và bài tiết dưới dạng ammoniac. Khí: Trong quá trình nuôi, việc sử dụng hóa chất đã phát thải vào môi trường một lượng khí dưới tác dụng của vi khuẩn như H2S, NH3, CH4… gây độc cho ao hồ.

Bùn: Chứa nhiều chất hữu cơ, kháng sinh, hóa chất, khí độc, và nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Bùn được thải thẳng ra đất không qua xử lý. Hầu hết ao nuôi tôm đều có lớp đất đen hay bùn thối ở đáy và xả vào nguồn nước xung quanh như sông, suối…gây ô nhiễm cho nguồn nước tiếp nhận. Nước: Do sử dụng thuốc kháng sinh và một số hóa chất (thuốc tím, clo…) trong hoạt động nuôi tôm nên chúng sẽ có mặt trong nước ao nuôi.

Nước chứa nhiều chất Sinh viên: Trần Thị Hải Trúc – 14CQM 4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng dinh dưỡng nên sinh ra khí H2S, NH3 và còn chứa nhiều chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, SO42- , HCO3-, NO2- gây độc nếu không được xử lý trước khi thải ra môi trường xung quanh. Các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động nuôi tôm [3] Bên cạnh những thành quả đạt được từ hoạt động nuôi trồng thủy sản nói chung, nuôi tôm nói riêng ở nước ta trong những năm qua, ô nhiễm môi trường tại các vùng nuôi, sản xuất giống thủy sản như xả thải các chất thải dinh dưỡng dư thừa, thuốc, hóa chất cũng như bao bì, thùng đựng thuốc, hóa chất và mầm bệnh ra ngoài môi trường là những vấn đề cần được quan tâm. Xả thải các chất dinh dưỡng dư thừa Theo các nghiên cứu trong và ngoài nước, một lượng lớn các chất dinh dưỡng trong thức ăn tôm, cá không được hấp thụ vào cơ thể chúng để tạo sinh khối mà bị thải ra ngoài môi trường xung quanh dưới dạng thức ăn dư thừa, phân và chất thải. Các kết quả nghiên cứu cho thấy 48,0 – 87,3 % Nitơ (N) và 75,0 – 94,0 % Phốt pho (P) đầu vào trong các ao nuôi tôm không được hấp thụ tạo sinh khối tôm mà bị thải ra ngoài môi trường thông qua thay nước, xả thải khi thu hoạch, lắng đọng trong bùn đáy ao nuôi….

Như vậy, để nuôi mỗi tấn tôm sẽ thải khoảng 16,8 – 157,2 kg N và 2,3 – 45,9 kg P ra môi trường tùy thuộc vào nguồn thức ăn cũng như mức độ thâm canh. Các thủy vực nhận nguồn nước thải từ các ao nuôi tôm thường có hàm lượng các thông số liên quan về dinh dưỡng như ammonia tổng số (TAN), nitrit (NO2-), nitrat (NO3-), photphat (PO43-), nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD), các chất rắn lơ lửng (SS), nitơ tổng số (TN), phốt pho tổng số (TP), tổng cacbon hữu cơ (TOC)… cao hơn so với các thủy vực tự nhiên và thường vượt ngưỡng cho phép theo một số quy chuẩn trong và ngoài nước. Các chất dinh dưỡng dư thừa nói trên có thể gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái tự nhiên của thủy vực như: gây ra hiện tượng phát triển quá mức của thực vật phù du hay còn gọi là hiện tượng tảo “nở hoa” và làm thay đổi các mắt xích trong chuỗi thức ăn của thủy vực; hay các chất thải tích tụ ở nền đáy, phân hủy làm tiêu tốn Sinh viên: Trần Thị Hải Trúc – 14CQM 5 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng nguồn ôxy trong thủy vực và khi các chất dinh dưỡng bị phân hủy trong môi trường yếm khí tạo ra các khí độc làm ảnh hưởng đến khu hệ động vật đáy trong thủy vực. Ngoài ra chúng còn gây ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm như: khi môi trường nước bị ô nhiễm, vùng ven sông rạch hay vùng bán ngập do mạch nước ngầm nông, nguồn nước mặt khi bị ô nhiễm với nhiều yếu tố độc hại đã di chuyển thẳng xuống mạch nước ngầm theo phương thẳng đứng hoặc từ nước sông ngấm vào mạch nước ngầm theo phương nằm ngang dưới tác động của thủy triều mà không qua quá trình gạn dọc, làm sạch tự nhiên của môi trường đất.

Như vậy các nguồn nước sông, nước kênh bị ô nhiễm sẽ gây ô nhiễm trực tiếp đến nguồn nước ngầm tầng nông. Như vậy, cùng với sự phát triển nghề nuôi tôm một lượng lớn các chất thải dinh dưỡng dư thừa đã và đang được xả thải ra môi trường ở dạng nước thải (qua thay nước, xả nước khi thu hoạch) hoặc dạng bùn thải (nạo vét bùn ao sau khi thu hoạch) cần được xử lý, kiểm soát tránh gây ô nhiễm môi trường vùng nuôi. Xả thải thuốc, hóa chất và các bao bì, thùng đựng thuốc và hóa chất Hầu hết các cơ sở nuôi, sản xuất giống tôm nước lợ và cá tra hiện nay đều sử dụng thuốc, hóa chất cho các mục đích khác nhau như: quản lý chất lượng nước và bùn đáy, làm tăng sinh khối thức ăn tự nhiên, quản lý dịch bệnh và sức khỏe động vật thủy sản, sản xuất thức ăn, quản lý và nâng cao hiệu quả sản xuất giống, thúc đẩy quá trình tăng trưởng….Theo kết quả điều tra của Mai Văn Tài tại 4 khu vực (Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ) thì có ít nhất 373 loại hóa chất và CPSH dùng trong NTTS, trong đó có 186 loại (32 kháng sinh) dùng trong nuôi tôm; 98 loại (39 kháng sinh) dùng trong sản xuất tôm giống. Việc sử dụng thuốc, hóa chất trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) nói chung, nuôi tôm nói riêng có thể gây ra những rủi ro như: - Một số thuốc, hóa chất có thể tồn tại một thời gian khá dài trong môi trường, nhiễm vào các sinh vật tự nhiên và có thể gây độc hại, gây chết cho các sinh vật tự nhiên.

- Tạo nên những dòng vi sinh vật kháng thuốc, gây hậu quả cho việc chữa trị bệnh của động vật nuôi cũng như làm ảnh hưởng tới nguồn lợi tự nhiên. Sinh viên: Trần Thị Hải Trúc – 14CQM 6 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng - Ảnh hưởng tới quá trình chuyển đổi vật chất trong nền đáy (quá trình địa hóa), các vitamin dư thừa có thể làm tăng chất dinh dưỡng của thủy vực tự nhiên. - Ảnh hưởng tới sức khỏe của công nhân làm việc trực tiếp cũng như sức khỏe của cộng đồng xung quanh vùng nuôi. - Dư lượng thuốc hóa chất trong sản phẩm thủy sản gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng.

Như vậy, có thể thấy việc sử dụng nhiều các loại thuốc, hóa chất, đặc biệt là các loại thuốc kháng sinh trong nuôi tôm có thể dẫn đến những tác động tiêu cực không nhỏ cho môi trường vùng nuôi. Xả thải mầm bệnh ra ngoài môi trường Việc xả nước thải, bùn thải chưa qua xử lý hoặc chưa được xử lý triệt để ra ngoài môi trường là vấn đề cần được quan tâm ở nước ta khi nhiều vùng nuôi dùng chung 1 kênh để cấp và thoát nước. Như vậy, mầm bệnh từ nước thải của ao nuôi bị bệnh dễ dàng phát tán sang những ao nuôi khác và có thể bùng phát dịch bệnh trong toàn vùng nuôi. Theo báo cáo Hội nghị công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản năm 2013 và xây dựng kế hoạch năm 2014 tại Cần Thơ, trong 10 tháng đầu năm 2013, dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPNS) trên tôm đã xuất hiện tại 192 xã của 57 huyện thuộc 18 tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước.

Tổng diện tích nuôi tôm có bệnh AHPNS là 5.705 ha, bao gồm 2.424 ha nuôi tôm thẻ và 3.282 ha nuôi tôm sú. Dịch bệnh đốm trắng trên tôm đã xuất hiện tại 278 xã của 93 huyện thuộc 28 tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước. So với năm 2012, dịch bệnh đốm trắng trên tôm nuôi tăng 4. Số lượng xã, huyện, tỉnh có dịch cũng tăng so với cùng kỳ năm 2012.

Như vậy, việc xả thải nước thải từ các cơ sở nuôi có chứa mầm bệnh ra môi trường có thể dẫn đến sự bùng phát dịch bệnh cho toàn vùng nuôi, làm chết cá, tôm nuôi và nếu không được xử lý triệt để sẽ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người: Tiếp xúc lâu dài với nước sẽ bị da khô, ăn da, nứt nẻ, chai cứng và nhiễm các bệnh do tiếp xúc nhiều với hóa chất. Tỉ lệ người mắc các bệnh cấp tính và mãn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung Sinh viên: Trần Thị Hải Trúc – 14CQM 7 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng thư… ngày càng tăng. Người dân sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh tình nghi là do dùng nước bẩn trong sinh hoạt. Các thông số đánh giá chất lượng nước thải thủy sản [2] a.

Chất rắn Chất rắn là những thành phần không hòa tan trong nước. Về bản chất, chúng có thể là những hạt chất hữu cơ, vô cơ, hoặc là những xác của VSV nguyên sinh động vật hay phiêu sinh vật. Các chất rắn có trong nước được đánh giá qua những thông số cơ bản sau: Tổng số chất rắn (TS): Tổng số chất rắn được xác định bằng phương pháp đo trọng lượng khô còn lại sau khi đem sấy khô 1 lít ở nhiệt độ 103ºC đến trọng lượng không đổi. Tổng số chất rắn được biểu thị bằng mg/l hay g/l.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn tốt nghiệp mang tiêu đề "Đánh giá khả năng xử lý nước thải nuôi tôm từ mô hình đất ngập nước nhân tạo" của tác giả Trần Thị Hải Trúc, dưới sự hướng dẫn của ThS. Ngô Thị Mỹ Bình, được thực hiện tại Đại học Sư Phạm Đà Nẵng vào năm 2018. Bài viết tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của mô hình đất ngập nước nhân tạo trong việc xử lý nước thải từ nuôi tôm, một vấn đề ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh phát triển ngành nuôi trồng thủy sản. Qua nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra những lợi ích của mô hình này không chỉ trong việc cải thiện chất lượng nước mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng và quản lý y tế, bạn có thể tham khảo bài viết "Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang", nơi đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Ngoài ra, bài viết "Thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang" cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về công tác chăm sóc sức khỏe trong môi trường y tế. Cuối cùng, bài viết "Thực trạng chăm sóc vết thương sau mổ của điều dưỡng tại khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình chăm sóc bệnh nhân trong các tình huống cụ thể. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở rộng góc nhìn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và môi trường.