Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, thuận lợi cho sự phát triển của thảm thực vật tự nhiên, đặc biệt là tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Đây là tiền đề thuận lợi để phát triển chăn nuôi các loài gia súc ăn cỏ, trong đó có đàn ngựa. Ngựa tại Việt Nam được nuôi chủ yếu ở vùng núi trung du Bắc Bộ, Tây Nguyên và một số ít ở vùng Đông Nam Bộ. Trong tổng thể đàn ngựa bản địa, ngựa bạch là nguồn gen quý hiếm với số lượng rất ít, phân bố rải rác ở các tỉnh miền núi như Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai và Yên Bái.

Ngựa bạch không chỉ có khả năng chịu đựng kham khổ, cung cấp sức kéo và sức thồ, mà còn mang lại giá trị kinh tế và y học đặc thù. Xương ngựa bạch được sử dụng để nấu cao, thịt cung cấp nguồn dinh dưỡng cao, phân bón phục vụ trồng trọt, da và lông phục vụ chế tác thủ công mỹ nghệ. Đặc biệt, huyết thanh của ngựa chửa là nguyên liệu để chiết xuất kích dục tố phục vụ công tác chăn nuôi sinh sản và điều chế một số chế phẩm sinh học thú y. Tuy nhiên, việc nắm bắt quy luật sinh trưởng cũng như dịch bệnh lâm sàng trên đàn ngựa bạch nuôi tập trung còn hạn chế. Do đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Duyên (ngành Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, hướng dẫn bởi TS. Đỗ Quốc Tuấn, năm 2014) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sản xuất, chăn nuôi tại cơ sở thực tập (xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).
  2. Trực tiếp thực hiện các hoạt động phục vụ sản xuất: vệ sinh khử trùng, tiêm phòng vaccine và điều trị bệnh lâm sàng cho đàn gia súc, gia cầm tại trại.
  3. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn ngựa bạch giai đoạn từ 6 đến 12 tháng tuổi nuôi tại trại.
  4. Theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị một số bệnh lý thường gặp trên đàn ngựa bạch.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn ngựa bạch nuôi từ giai đoạn 6 đến 12 tháng tuổi, cùng các loại vật nuôi khác trong cơ sở thực tập phục vụ công tác chẩn đoán, điều trị thú y.
  • Phạm vi không gian: Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa (thuộc Công ty Cổ phần khai khoáng miền núi), đóng tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Khóa luận thực hiện trong đợt thực tập năm 2014, kế thừa số liệu điều tra cơ bản tại địa phương và cơ sở từ năm 2009 đến năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết và đặc điểm sinh học

  • Phân loại học: Ngựa bạch thuộc loài ngựa (Equus caballus), bộ guốc lẻ (Perissodactyla), họ Equidae, lớp động vật có vú (Mammalia).
  • Di truyền học màu lông: Dựa trên nghiên cứu di truyền học của Wright (1917), Castle và King (1951), Trần Đình Miên (2008) và thông báo từ Đại học California (Davis - Hoa Kỳ), màu lông ngựa bạch do gen trội $W$ quy định. Kiểu gen đồng hợp tử trội ($WW$) mang đột biến gây chết phôi hoặc chết lưu thai; kiểu gen dị hợp tử ($Ww$) biểu hiện tính trạng ngựa bạch sống; kiểu gen đồng hợp tử lặn ($ww$) quy định màu lông bình thường. Khi lai giữa ngựa bạch ($Ww$) và ngựa bạch ($Ww$), tỷ lệ đời con phân ly gồm 50% ngựa bạch ($Ww$), 25% ngựa màu ($ww$) và 25% chết phôi/thai ($WW$).
  • Tiêu chuẩn ngoại hình ngựa bạch: Toàn thân có lông màu trắng hồng hoặc trắng mây, da màu trắng hồng, viền mắt màu hồng, con ngươi màu đỏ hồng (đồng lửa), ban đêm soi đèn pin có màu đỏ rực, bốn móng chân đều có màu trắng ngà.
  • Chỉ tiêu sinh lý cơ bản của loài ngựa:
    • Tần số hô hấp: 16 – 18 lần/phút ở trạng thái bình thường (Trần Minh Châu, 2001).
    • Tần số mạch đập: 24 – 42 lần/phút (Hồ Văn Nam, 1997), vị trí bắt mạch tại động mạch đuôi. Tỷ lệ sinh lý bình thường giữa hô hấp và mạch đập là 1:3.
    • Thân nhiệt: Dao động trong khoảng 37,5 – 38,5°C (Cao Văn, 2002; Hồ Văn Nam, 1997), đo bằng nhiệt kế thủy ngân tại trực tràng trong thời gian 10 – 20 phút.
  • Đặc điểm giải phẫu và sinh lý tiêu hóa: Ngựa là loài ăn cỏ có dạ dày đơn (dung tích 15 – 20 lít), lỗ thượng vị luôn đóng chặt và có cơ vòng khỏe nên ngựa hầu như không thể nôn mửa. Ruột non dài 25 – 30 m (tá tràng 100 cm, không tràng 19 – 30 m, hồi tràng 3 m). Ruột già dung tích lớn, trong đó manh tràng dài 100 – 110 cm (dung tích 30 – 40 lít, nơi tập trung vi sinh vật lên men phân giải chất xơ), kết tràng dài 6 – 6,5 m (dung tích 80 – 90 lít), trực tràng dài 35 – 40 cm. Gan chiếm 1,17% thể trọng và không có túi mật, dịch mật được dẫn trực tiếp vào tá tràng.
  • Công thức răng: Ngựa đực trưởng thành có 40 răng với công thức răng: $$2 \times \left(\text{RC } \frac{3}{3} + \text{RN } \frac{1}{1} + \text{RHT } \frac{3}{3} + \text{RHS } \frac{3}{3}\right) = 40$$ Ngựa cái có 36 răng (không có răng nanh). Ngựa con 9 tháng tuổi có 28 răng.
  • Sinh sản và phát dục: Ngựa cái thành thục sinh dục từ 1 – 1,5 tuổi, bắt đầu phối giống thích hợp lúc 3 tuổi. Chu kỳ động dục biểu hiện qua 4 giai đoạn rõ rệt; rụng trứng xảy ra trước khi kết thúc động dục 24 – 48 giờ. Thời gian mang thai trung bình là 315 – 320 ngày (khoảng 11 tháng).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điều tra cơ bản: Thu thập thông tin, số liệu thống kê hành chính, kinh tế - xã hội, hiện trạng trồng trọt và tổng đàn gia súc, gia cầm từ Ủy ban nhân dân xã Tức Tranh và sổ sách theo dõi của trại chăn nuôi.
  • Phương pháp theo dõi khả năng sinh trưởng:
    • Cân trực tiếp để xác định khối lượng cơ thể (kg).
    • Dùng thước dây và gậy đo chuyên dụng để thu thập các chiều đo cơ bản: cao vây (CV), cao khum (CK), dài thân chéo (DTC), vòng ngực (VN), vòng ống (VO).
    • Tính toán sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày hoặc kg/tháng) và sinh trưởng tương đối (%) qua các tháng tuổi từ 6 đến 12 tháng.
  • Phương pháp theo dõi bệnh lý và thử nghiệm phác đồ điều trị: Quan sát triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán bệnh, xây dựng phác đồ can thiệp bằng thuốc thú y (kháng sinh, thuốc giảm co thắt, thuốc trợ sức, thuốc tẩy nhuận tràng) và ghi nhận tỷ lệ hồi phục.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được tổng hợp và phân tích bằng các công thức thống kê sinh học trong chăn nuôi thú y.

Nội dung chính theo từng phần và chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

1. Điều tra cơ bản

  • Địa bàn xã Tức Tranh: Diện tích tự nhiên 2.559,35 ha, chia làm 4 vùng với 24 xóm. Cơ cấu đất đai gồm đất nông nghiệp 1.211,3 ha (47,33%), đất lâm nghiệp 766,67 ha (29,96%), đất ở 423,3 ha (16,54%), đất xây dựng phúc lợi 153,08 ha (5,98%), đất chưa sử dụng 5,0 ha (0,20%). Diện tích trồng chè đạt 1.011,3 ha.
  • Dân số: Toàn xã có 2.050 hộ với 8.905 nhân khẩu, hơn 80% số hộ sản xuất nông nghiệp.
  • Tổng đàn vật nuôi của xã (cuối năm 2013): Trâu bò 338 con, lợn 1.970 con, gia cầm 13.220 con.
  • Quy mô cơ sở thực tập: Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã được thành lập năm 2006 với tổng diện tích 6 ha, gồm đất nhà ở và kho bãi 0,05 ha, cây ăn quả 2 ha, đất trồng cỏ 2,5 ha, chăn nuôi ngựa 1,0 ha, chăn nuôi lợn 0,35 ha, chăn nuôi hươu 0,1 ha. Tổng đàn tại trại gồm 24 con ngựa bạch (nhập nuôi từ tháng 4/2009), 10 con hươu sao và 250 con lợn.

2. Phục vụ sản xuất và công tác thú y

  • Vệ sinh phòng dịch: Khử trùng chuồng trại định kỳ bằng dung dịch Han-iodine 10% (1 lần/tuần, tăng lên 2 ngày/lần khi có dịch) hoặc Chloramin; dọn phân hàng ngày và ủ hoai mục để bón cho 2,5 ha cỏ giống và cỏ thức ăn.
  • Tiêm phòng vaccine:
    • Đàn lợn: Tiêm vaccine dịch tả lợn nhược độc chủng C (130 con tại chỗ; tổng phục vụ 180 con) và vaccine tụ dấu lợn nhược độc đa giá (120 con tại chỗ; tổng phục vụ 250 con).
    • Đàn trâu bò: Tiêm phòng vaccine tụ huyết trùng (85 con).
    • Đàn hươu: Tiêm vaccine tụ huyết trùng dạng nhược độc (12 con, liều 1 ml/con).
    • Đàn ngựa: Tiêm vaccine Faolid phòng bệnh ký sinh trùng đường máu (26 con, liều 4 ml/100 kg thể trọng).
  • Chẩn đoán và điều trị bệnh lâm sàng:
    • Bệnh lợn con phân trắng: Điều trị 95 con bằng Chlorocid-100 (liều 400 – 500 mg/kg TT) và Biotycoson (1 ml/10 kg TT), tỷ lệ khỏi đạt 94,7%.
    • Bệnh tiêu chảy ở lợn: Điều trị 6 con bằng Nofacoli kết hợp Berberin và nước lá ổi/chó đẻ, tỷ lệ khỏi đạt 100%.
    • Bệnh viêm phổi lợn do Mycoplasma hyopneumoniae: Điều trị 7 con bằng Lincomycin 10% (1 ml/10 kg TT) kết hợp B.complex, tỷ lệ khỏi đạt 100%.
    • Bệnh ghẻ lợn do ký sinh trùng Sarcoptes scabiei suis: Điều trị 9 con bằng tắm xà phòng, bôi Han-iodine 10% và thuốc bột D.P, tỷ lệ khỏi đạt 100%.
    • Bệnh chướng hơi dạ cỏ ở hươu: Can thiệp 2 con bằng xoa bóp dầu nóng vùng hông trái, cho uống thuốc nhuận tràng thông mật chứa $\text{MgSO}_4$, tiêm B.complex trợ lực, tỷ lệ khỏi đạt 100%.
Loại vật nuôi / Bệnh lý can thiệp Số lượng điều trị (con) Số con khỏi (con) Tỷ lệ khỏi (%) Phác đồ / Thuốc điều trị chính
Tiêm phòng dịch tả lợn 180 180 100,00 Vaccine nhược độc chủng C
Tiêm phòng tụ huyết trùng lợn 250 250 100,00 Vaccine nhược độc đa giá tụ - dấu
Tiêm phòng tụ huyết trùng trâu bò 85 85 100,00 Vaccine nhược độc tụ huyết trùng
Tiêm phòng ký sinh trùng máu ngựa 26 26 100,00 Vaccine Faolid (4 ml/100 kg TT)
Viêm phổi ngựa 4 3 75,00 Hangen-Tylo, Kanamycin + Tiamulin
Đau bụng ngựa 3 3 100,00 Atropin 0,1%, Novocain 2%, $\text{MgSO}_4$
Tiêu chảy ngựa 8 8 100,00 Hamcoli-S (1 ml/10 kg TT), B.complex
Nấm phổi 15 12 80,00 Kháng sinh trị nấm và trợ sức
Viêm ruột cấp ở chó 7 5 71,43 Kháng sinh đường ruột, truyền dịch
Viêm vú lợn nái 1 1 100,00 Kháng sinh đặc hiệu, giảm viêm

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu

1. Mức độ tiêu hóa các chất dinh dưỡng ở bộ máy tiêu hóa của ngựa

Theo tài liệu dẫn chứng từ Nguyễn Đức Khanh (1998) trong văn bản, tỷ lệ tiêu hóa protein và chất béo thô diễn ra khác nhau tại các đoạn của ống tiêu hóa:

Vị trí bộ máy tiêu hóa Tỷ lệ tiêu hóa Protein (%) Tỷ lệ tiêu hóa Chất béo (%)
Dạ dày 36,9 66,2
Ruột non 33,0 48,1
Manh tràng 13,9 24,8
Ruột kết 13,5 25,5
Trực tràng 10,2 23,8

2. Khả năng sinh trưởng của ngựa bạch giai đoạn 6 đến 12 tháng tuổi

  • Giai đoạn từ 6 đến 12 tháng tuổi là giai đoạn có cường độ sinh trưởng cao nhất trong vòng đời phát triển của ngựa con. Quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh, đồng hóa lớn hơn dị hóa.
  • Tốc độ sinh trưởng của ngựa con từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi đạt 0,8 – 1,0 kg/con/ngày; giai đoạn sau nếu nuôi dưỡng tốt đạt bình quân 0,4 – 0,6 kg/con/ngày. Đến 6 tháng tuổi, khối lượng cơ thể tăng gấp 5 lần so với khối lượng sơ sinh và đạt xấp xỉ 45% khối lượng của ngựa lúc trưởng thành.
  • Sự phát triển của các chiều đo cơ thể (cao vây, cao khum, dài thân chéo, vòng ngực, vòng ống) tăng mạnh nhất từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi, sau đó duy trì ổn định dần ở giai đoạn 12 – 18 tháng tuổi và hoàn thiện tầm vóc trưởng thành ở giai đoạn 24 – 30 tháng tuổi.

3. Nghiên cứu bệnh học và kết quả điều trị trên đàn ngựa bạch

  • Bệnh viêm phổi ngựa:
    • Nguyên nhân: Do vi khuẩn liên cầu khuẩn phế viêm và song cầu khuẩn (Gram âm) xâm nhập qua đường hô hấp, bệnh thường phát sinh vào mùa đông lạnh ẩm hoặc khi chuyển mùa từ thu sang đông.
    • Triệu chứng lâm sàng: Thời gian ủ bệnh 6 – 12 ngày (kéo dài đến 1 tháng), sốt cao 39 – 41,5°C, chảy nước mắt, thở khó tăng dần, dịch mũi ban đầu loãng sau đặc dần thành mủ dính quanh lỗ mũi, ho nhiều vào ban đêm và sáng sớm.
    • Bệnh tích mổ khám: Phế quản tụ máu và chứa dịch mủ; nhu mô phổi bị viêm từng mảng đông đặc, đỏ sẫm, khi cắt có các ổ mủ hoặc bã đậu.
    • Phác đồ can thiệp: Sử dụng Hangen-Tylo (thành phần gồm Gentamycin và Tylosin) tiêm bắp liều 15 ml/100 kg TT/lần (ngày 2 lần, liên tục 4 ngày) kết hợp tiêm B.complex (5 ml/con). Phác đồ phối hợp Kanamycin (30 mg/kg TT) và Tiamulin (1 ml/10 kg TT) dùng liên tục 6 – 7 ngày kết hợp truyền dịch mặn 0,9% và ngọt 5%. Kết quả điều trị chuyên đề khỏi 3/3 con (100%), tổng số liệu phục vụ đạt 3/4 con (75%).
  • Bệnh tiêu chảy ở ngựa:
    • Nguyên nhân: Do thức ăn kém phẩm chất, bị ôi thiu, ẩm mốc hoặc thay đổi khẩu phần đột ngột.
    • Triệu chứng: Phân nhão không thành khuôn sau đó ỉa chảy vọt cần câu, ngựa kém ăn, gầy yếu.
    • Phác đồ điều trị: Tiêm Hamcoli-S (1 ml/10 kg TT/ngày, dùng liên tục 3 ngày) kết hợp B.complex (5 ml/con). Kết quả điều trị đạt tỷ lệ khỏi 8/8 con (100%).
  • Hội chứng đau bụng ngựa:
    • Nguyên nhân: Do nhiễm độc thức ăn, uống nước lạnh sau khi làm việc, thức ăn lên men sinh hơi, nhiễm vi khuẩn thương hàn hoặc ấu trùng giun tròn di hành gây tắc mạch, u máu tại manh tràng.
    • Triệu chứng: Ngựa bồn chồn, chân trước cào đất, chân sau đạp bụng, nằm xuống đứng lên thận trọng hoặc lăn lộn co giật, bốn chân chổng lên trời; bệnh tiến triển cấp tính, có thể chết sau 1 – 3 giờ nếu không cấp cứu kịp thời.
    • Phác đồ cấp cứu: Tiêm Atropin sunfat 0,1% liều 4 ml/100 kg TT (chống co thắt, không dùng khi táo bón); tiêm Novocain 2% vào tĩnh mạch (15 ml/con); cho uống thuốc nhuận tràng thông mật chứa $\text{MgSO}_4$ và $\text{Na}_2\text{SO}_4$ (15 g/lít nước); kết hợp tiêm trợ sức bằng dung dịch Glucose 20% (1 – 2 lít), Cafein Natribenzoat 20% (20 ml), Calci Clorua 10% (50 – 70 ml), Urotropin 10% (50 – 70 ml) và Vitamin C 5% (20 ml). Kết quả điều trị đạt tỷ lệ khỏi 5/5 con (100%).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định và hệ thống hóa toàn bộ các đặc trưng di truyền, hình thái học và các chỉ tiêu sinh lý của đàn ngựa bạch: Tần số hô hấp (16 – 18 lần/phút), tần số mạch đập (24 – 42 lần/phút), thân nhiệt (37,5 – 38,5°C) và tỷ lệ tiêu hóa các chất hữu cơ ở từng phần của đường ruột.
  • Khẳng định tốc độ sinh trưởng của ngựa con từ 6 đến 12 tháng tuổi là giai đoạn then chốt để quyết định tầm vóc của ngựa trưởng thành.
  • Triển khai thành công công tác thú y tại cơ sở: Tiêm phòng an toàn 100% cho 26 con ngựa bạch (phòng ký sinh trùng đường máu bằng Faolid), 85 con trâu bò, 250 con lợn và 12 con hươu sao.
  • Ứng dụng thành công các phác đồ điều trị lâm sàng trên đàn ngựa bạch: Chữa khỏi 100% bệnh tiêu chảy (8/8 con), 100% hội chứng đau bụng cấp tính (5/5 con) và 75 – 100% bệnh viêm phổi ngựa.

Đóng góp thực tiễn và giải pháp kỹ thuật đề xuất

  • Đề xuất quy trình nuôi dưỡng kết hợp: Tận dụng diện tích chăn thả tự do 1 buổi/ngày trong khuôn viên 1 ha của trại, kết hợp bổ sung thức ăn tinh (ngô, cám) và thức ăn thô xanh cắt từ 2,5 ha diện tích trồng cỏ.
  • Thiết lập quy trình phòng bệnh chủ động: Vệ sinh chuồng trại, phun sát trùng định kỳ bằng Han-iodine 10% và Chloramin; áp dụng nghiêm ngặt quy trình tiêm phòng định kỳ vào hai vụ xuân hè và thu đông; che kín chuồng trại vào mùa đông tránh gió lùa để phòng bệnh viêm phổi.
  • Đóng góp so với thực tiễn: Khóa luận cung cấp tài liệu thực nghiệm có hệ thống về quy trình quản lý, theo dõi sinh trưởng và phác đồ điều trị các bệnh cấp tính thường gặp trên giống ngựa bạch nuôi bán hoang dã tại địa bàn trung du miền núi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian thực tập tốt nghiệp có hạn; quy mô đàn ngựa bạch theo dõi tại một cơ sở thực tập đơn lẻ (24 con); hệ thống cơ sở hạ tầng chuồng trại, hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi tại cơ sở còn cần được tiếp tục đầu tư và nâng cấp đồng bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và kích thước các chiều đo của đàn ngựa bạch ở các giai đoạn tuổi tiếp theo (12 – 18 tháng, 18 – 24 tháng và 24 – 30 tháng tuổi).
    • Nghiên cứu hoàn thiện công thức khẩu phần thức ăn thâm canh phối hợp nguồn cỏ trồng tại chỗ nhằm nâng cao khả năng tăng khối lượng của ngựa.
    • Đi sâu nghiên cứu về sinh sản, thử nghiệm kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và phương pháp khai thác, chế biến các sản phẩm từ ngựa bạch (cao xương, huyết thanh ngựa chửa).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi - Thú y tại các trường đại học, cao đẳng khối nông lâm nghiệp; cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên thú y cơ sở tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
    • Hệ thống dữ liệu giải phẫu, sinh lý tiêu hóa, công thức răng và quy luật phân ly tính trạng di truyền màu lông ngựa bạch theo định luật Mendel.
    • Hướng dẫn thực hành đo đạc các chiều đo sinh trắc học và kỹ thuật chọn giống ngựa dựa trên ngoại hình.
    • Các phác đồ điều trị thú y chi tiết (tên thuốc, liều lượng, đường đưa thuốc, liệu trình) đối với các bệnh lý thường gặp ở ngựa (viêm phổi do vi khuẩn, hội chứng đau bụng cấp do co thắt/tắc ruột, tiêu chảy do thức ăn) và các bệnh thường gặp trên đàn lợn, hươu sao.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ chế di truyền màu lông của ngựa bạch được quy định như thế nào theo các nghiên cứu khoa học trong khóa luận?

Màu lông ngựa bạch do gen trội $W$ quy định. Đột biến này mang đặc tính gây chết ở trạng thái đồng hợp tử trội ($WW$), dẫn đến hiện tượng chết lưu phôi hoặc chết thai. Những cá thể ngựa bạch sống sót đều mang kiểu gen dị hợp tử ($Ww$), còn ngựa màu bình thường mang kiểu gen đồng hợp tử lặn ($ww$). Khi phối giống giữa ngựa bạch ($Ww$) với ngựa bạch ($Ww$), tỷ lệ phân ly ở đời con là 50% ngựa bạch ($Ww$), 25% ngựa màu ($ww$) và 25% chết phôi/thai ($WW$).

2. Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa của ngựa có gì khác biệt so với các loài gia súc nhai lại?

Khác với trâu bò có dạ dày 4 ngăn, ngựa là loài ăn cỏ có dạ dày đơn dung tích 15 – 20 lít. Lỗ thượng vị của ngựa rất nhỏ và được bao quanh bởi lớp cơ vòng co thắt rất mạnh, khiến thức ăn một khi đã đi vào dạ dày thì không thể trào ngược trở lại thực quản, do đó ngựa không có hiện tượng ợ nhai lại và hầu như không thể nôn mửa. Quá trình tiêu hóa chất xơ của ngựa chủ yếu diễn ra nhờ hệ vi sinh vật tại manh tràng (ruột tịt) có kích thước lớn (dài 100 – 110 cm, dung tích 30 – 40 lít). Ngoài ra, gan của ngựa không có túi mật, dịch mật được tiết trực tiếp qua ống dẫn đổ vào tá tràng.

3. Các chỉ tiêu sinh lý bình thường về thân nhiệt, tần số hô hấp và mạch đập của ngựa được xác định ở mức nào?

Ở trạng thái khỏe mạnh bình thường, tần số hô hấp của ngựa dao động từ 16 đến 18 lần/phút; tần số mạch đập trung bình từ 24 đến 42 lần/phút (đo tại động mạch đuôi); tỷ lệ sinh lý bình thường giữa hô hấp và mạch đập là 1:3. Thân nhiệt của ngựa duy trì trong khoảng 37,5 đến 38,5°C, được đo bằng nhiệt kế tại trực tràng với thời gian giữ nhiệt kế từ 10 đến 20 phút.

4. Nguyên nhân và các biện pháp can thiệp cấp cứu đối với hội chứng đau bụng cấp ở ngựa là gì?

Hội chứng đau bụng ngựa phát sinh do ba nhóm nguyên nhân chính: thức ăn/nước uống chứa chất độc hoặc bị ôi thiu lên men; nhiễm khuẩn thương hàn gây viêm ruột; hoặc do ấu trùng giun tròn di hành gây tổn thương và tắc nghẽn mạch máu tại manh tràng. Khi can thiệp cấp cứu, bác sĩ thú y cần sử dụng ống thông dạ dày để tháo hơi/rửa dạ dày, tiêm thuốc giảm co thắt (Atropin sunfat 0,1% liều 4 ml/100 kg TT hoặc Novocain 2% tĩnh mạch 15 ml/con), cho uống thuốc nhuận tràng thông mật ($\text{MgSO}_4$, $\text{Na}_2\text{SO}_4$) để tống chất ứ đọng, đồng thời truyền tĩnh mạch dung dịch Glucose 20%, Cafein, Calci Clorua và Vitamin C để hồi sức, giải độc.

5. Kết quả điều trị các bệnh phổ biến trên đàn ngựa tại cơ sở nghiên cứu đạt tỷ lệ khỏi như thế nào?

Trong quá trình theo dõi lâm sàng và điều trị tại trại, các phác đồ can thiệp ghi nhận tỷ lệ hồi phục cao: bệnh tiêu chảy ở ngựa đạt tỷ lệ khỏi 100% (8/8 con khỏi bệnh khi dùng Hamcoli-S kết hợp B.complex); hội chứng đau bụng ở ngựa đạt tỷ lệ khỏi 100% (5/5 con được cấp cứu kịp thời); bệnh viêm phổi do vi khuẩn đạt tỷ lệ khỏi 75 – 100% (chữa khỏi 3/3 con trong chuyên đề theo dõi và 3/4 con trong tổng số ca điều trị phục vụ sản xuất).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Thị Duyên đã thực hiện việc điều tra điều kiện chăn nuôi, tổng kết các chỉ tiêu sinh lý học, giải phẫu học và quy luật di truyền tính trạng màu lông của giống ngựa bạch quý hiếm. Đề tài đã đánh giá được đặc điểm sinh trưởng của ngựa con giai đoạn 6 đến 12 tháng tuổi nuôi tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, khóa luận đã kiểm chứng thành công hiệu quả của các quy trình tiêm phòng vaccine và phác đồ điều trị lâm sàng đối với các bệnh viêm phổi, tiêu chảy và hội chứng đau bụng cấp tính trên đàn gia súc.