Nghiên cứu khả năng kết hợp và ưu thế lai của các dòng dưa lưới trồng tại Quy Nhơn, Bình Định

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu 1552 đánh giá khả năng kết hợp và khả năng tạo ưu thế lai của các dòng dưa lưới trồng tại thành phố, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại học Quy Nhơn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

124
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khả năng kết hợp dưa lưới

Nghiên cứu tập trung vào khả năng kết hợp của các dòng dưa lưới tại Quy Nhơn, Bình Định. Các dòng bố mẹ được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và phẩm chất trái. Kết quả cho thấy, các dòng dưa lưới có khả năng kết hợp tốt nhất là D2 (S878-8-4-4) và D3 (Q-9-3), với năng suất và chất lượng trái vượt trội. Điều này khẳng định tiềm năng của các dòng này trong việc tạo ra giống lai ưu việt.

1.1. Phương pháp đánh giá

Phương pháp lai đỉnh được sử dụng để đánh giá khả năng kết hợp của các dòng dưa lưới. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm thời gian sinh trưởng, số lá, kích thước quả và hàm lượng dinh dưỡng. Kết quả phân tích cho thấy, các dòng D2 và D3 có giá trị khả năng kết hợp cao nhất, đặc biệt về năng suất và chất lượng trái.

II. Ưu thế lai dưa lưới

Nghiên cứu xác định ưu thế lai của các tổ hợp lai dưa lưới tại Quy Nhơn, Bình Định. Các tổ hợp lai được tạo ra từ các dòng bố mẹ có khả năng kết hợp tốt nhất. Kết quả cho thấy, tổ hợp lai THL1 (♀ S878-8-4-4 * Q-9-3 ♂) có ưu thế lai vượt trội về năng suất và chất lượng trái, đạt năng suất thực thu cao nhất (NSTT = 25.3 tấn/ha).

2.1. Phân tích hiện tượng ưu thế lai

Hiện tượng ưu thế lai được phân tích dựa trên các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất. Tổ hợp lai THL1 cho thấy sự vượt trội rõ rệt về chiều dài thân chính, số lá và kích thước quả. Điều này khẳng định tiềm năng của tổ hợp lai này trong việc ứng dụng vào sản xuất thực tế.

III. Dòng dưa lưới tại Quy Nhơn

Các dòng dưa lưới tại Quy Nhơn được nghiên cứu bao gồm D1 (AB-1-1-1), D2 (S878-8-4-4), D3 (Q-9-3), D4 (CP-1-1-1-1-2) và D5 (T-1-1-1-1). Kết quả cho thấy, các dòng này có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và đất đai của vùng Duyên hải Nam Trung bộ. Đặc biệt, dòng D2 và D3 cho năng suất và chất lượng trái cao nhất.

3.1. Đặc điểm sinh trưởng

Các dòng dưa lưới tại Quy Nhơn được đánh giá dựa trên thời gian sinh trưởng, số lá và kích thước quả. Dòng D2 và D3 có thời gian sinh trưởng ngắn (75-80 ngày), số lá nhiều (15-20 lá/cây) và kích thước quả lớn (2.5-3.0 kg/quả), phù hợp với điều kiện canh tác tại địa phương.

IV. Đánh giá dưa lưới Bình Định

Nghiên cứu đánh giá toàn diện các dòng dưa lưới Bình Định về khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái. Kết quả cho thấy, các dòng dưa lưới tại Bình Định có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu khắc nghiệt của vùng, đặc biệt là dòng D2 và D3. Các dòng này cho năng suất cao (20-25 tấn/ha) và chất lượng trái tốt, đáp ứng nhu cầu thị trường.

4.1. Phẩm chất trái

Các dòng dưa lưới Bình Định được đánh giá dựa trên độ dày thịt trái, hàm lượng đường và vitamin C. Dòng D2 và D3 có độ dày thịt trái cao (3.5-4.0 cm), hàm lượng đường tổng số (12-14%) và vitamin C (30-35 mg/100g), đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng cao.

V. Kỹ thuật trồng dưa lưới

Nghiên cứu đề xuất kỹ thuật trồng dưa lưới phù hợp với điều kiện tại Quy Nhơn, Bình Định. Các biện pháp kỹ thuật bao gồm chọn giống, bón phân, tưới nước và phòng trừ sâu bệnh. Kết quả cho thấy, việc áp dụng kỹ thuật trồng dưa lưới hiện đại giúp tăng năng suất và chất lượng trái, đặc biệt là với các dòng D2 và D3.

5.1. Quy trình chăm sóc

Quy trình kỹ thuật trồng dưa lưới bao gồm các bước: chọn giống, bón phân cân đối, tưới nước đúng cách và phòng trừ sâu bệnh kịp thời. Việc áp dụng quy trình này giúp các dòng dưa lưới tại Quy Nhơn, Bình Định đạt năng suất cao và chất lượng trái tốt, đáp ứng nhu cầu thị trường.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, lịch sử phát triển của cây dưa lưới Khóa phân loại dưa lưới Giới (Kingdom): Plantea Ngành (Division): Angiospermatophyta Lớp (Class) : Dicotyledoneae Bộ (Ordo): Cucurbitales Họ (Familia): Cucurbitaceae Chi (Genus): Cucumis L Loài (Species): Cucumis melo L. Các giống dưa lê có vân lưới bên ngoài vỏ quả thường gọi là ‘dưa lưới’. Dưa lê là một loại trái cây số 1 tại châu Âu và giữ một vị trí quan trọng tại thị trường này trong gần 35 năm qua.

Trong đó phải nhắc đến Zvi Karchi (nhà chọn giống người Israel) đã tạo ra giống dưa lưới lai F1 Galiamuskmelon (Cucumis melo L.) nổi tiếng và được ưa chuộng nhất. “Galia” đã trở thành tên thương mại để gọi chung cho hơn 60 giống dưa lê có hình dạng tương tự (vỏ quả màu xanh hoặc hơi vàng, vỏ có lưới, ngọt và có mùi thơm). Dưa lê được trồng nhiều ở Tây Ban Nha, Thỗ Nhĩ Kì, Ma Rốc, Ai Câp, Trung Đông và một số quốc gia thuộc châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Nguồn gốc của dưa lê là một trong những vấn đề mà các nhà khoa học 4 ngày nay còn chưa thống nhất.

Nhiều nhà khoa học cho rằng dưa lê có nguồn gốc từ vùng phía Nam và vùng phía Đông Châu Phi (Mallick và Masui, 1986) [13]. Trong những năm gần đây, có nhiều nhà khoa học cho là dưa lê có nguồn gốc từ Châu Á (Sebastian và cộng sự, 2010). Nói chung các tác giả đều thống nhất dưa lê có nguồn gốc từ các vùng có khí hậu khô, nóng như: Vùng phía Nam và Đông Châu Phi, vùng Nam Á, Trung Á, Tây Á. Người Ai Cập cổ đại và Iran đã dùng dưa lê dại như là một loại thực phẩm từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên (Dhillon và cộng sự, 2011; Janick và cộng sự, 2007; Zeven và de Wet, 1982) [13].

Dưa lê được trồng ở vùng Địa Trung Hải và phát tán sang Tây Ban Nha vào thế kỷ thứ 15. Columbus đã mang dưa lê qua Châu Mỹ và trồng ở đảo Isabela vào năm 1494. Năm 1973, các thương gia châu Phi đã mang hạt dưa lê đến bán ở nhiều vùng châu Mỹ những năm 1640, do vậy dưa được trồng rộng rãi ở Mỹ và những giống tốt đã được sản suất tại Mỹ như Alabama Sweet (1850), Peerless (1960), Charleston (1954) và 2 giống Phinney Early và Gerogia Rattlenake (1870), sau đó là giống Charleston Gray (1954) và Crim Sweet, Jubibe (1964). Dưa lê Hàn Quốc (Cucumis melo L.

Makuwa) hay còn gọi Korean melon là một loại dưa được trồng phổ biến ở Hàn Quốc. Các nghiên cứu về sự phân bào dòng di truyền của cây cho thấy rằng dưa lê Hàn Quốc có thể có nguồn gốc ở Đông Ấn Độ, sau đó, được cho là đã được đưa vào Trung Quốc từ hướng tây qua con đường tơ lụa [28]. Hiện tại thì dưa lưới được sử dụng phổ biến ở dạng tươi và được xem là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Không những thế, thành phần của dưa lưới có chứa chất chống oxy hóa dạng polyphenol, có khả năng phòng chống ung thư và tăng cường hệ miễn dịch, nhiều chất xơ nên có tác dụng 5 nhuận trường, chống táo bón và là nguồn phong phú beta-carotene, acid folic, kali và vitamin C, A giúp điều hòa huyết áp, ngừa sỏi thận, lão hóa xương,.

Phân bố: Ngày nay, dưa lưới được trồng ở hơn 100 vùng lãnh thổ và quốc gia (trong đó có Việt Nam). Các giống dưa lưới lai F1 được cải tiến không ngừng nhằm đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, tăng năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu khí hậu khắc nghiệt và các bệnh hại cây trồng. Đặc điểm sinh học và yêu cầu ngoại cảnh của dưa lưới 1. Đặc điểm sinh học của dưa lưới Rễ: Cây dưa lưới và dưa hấu có rễ cái cứng cáp có thể đâm sâu và dàn rộng ra xung quanh, chúng có khả năng hút nước ở những tầng nước sâu và khả năng chịu hạn tốt [14].

Thân cây: Dưa lưới thuộc cây hằng niên, thân thảo, mềm, có gốc cạnh,có khả năng bò hoặc leo và thường dài từ 2-6m. Thân hình tròn và rỗng ở bên trong, mặt ngoài có nhiều lông cứng màu trắng.Thường thì thân chính sẽ tạo ra 3-4 thân phụ bằng hoặc dài hơn nó. Những nhánh phụ tiếp theo sẽ phát sinh từ cả thân chính và thân phụ và có thể tạo ra trái nếu cây vẫn phát triển tốt. Dưa thuộc họ Bầu bí có khả năng phân nhánh mạnh, tuy nhiên khả năng phân nhánh nhiều hay ít, sớm hay muộn lại phụ thuộc vào giống của từng loại cây trong họ và phụ thuộc vào biện pháp kỹ thuật.

[14] Lá: Có hai dạng là lá mầm và lá thật. Lá mầm là lá ra đầu tiên tồn tại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây, nuôi cây trong giai đoạn đầu, lá có hình oval hay hình trứng và mọc đối xứng nhau qua đỉnh sinh trưởng của cây. Lá mầm là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá sự sinh trưởng của cây ở giai đoạn đầu. Lá mầm to dày, phát triển cân đối sẽ hứa hẹn cây sinh trưởng mạnh, lá mầm nhỏ, mỏng, mọc không cân đối cây sẽ sinh trưởng yếu.

Lá thật là lá đơn, cuống dài và rỗng, mọc cách trên thân chính, có độ lớn tối đa vào thời kỳ sinh trưởng mạnh, ra hoa rộ. Có chia thùy nhiều hay ít sâu hay cạn tùy theo 6 giống, lá đầu tiên có sẻ thùy cạn. Hai mặt phiến lá, cuống lá đều có lớp lông cứng với chức năng bảo vệ và giảm thiểu quá trình thoát hơi nước. Cây dưa còn có các tua cuốn hỗ trợ trong việc cây bám và leo, tua cuốn có thể ở dạng nhánh (như dưa hấu) hoặc ở dạng chiếc ( như dưa bở) [14].

Hoa: Dưa lê có 3 loại hoa: hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính. Hoa lưỡng tính là trên cùng một hoa có cả nhụy và nhị, như vậy có khả năng tự thụ phấn hoặc là thụ phấn chéo. Hoa dưa lê nhỏ, màu vàng, có 5 cánh. Hoa đực có 3 chỉ nhị, hoa cái có trứng và 3 khoang chứa phấn (three cells) [15][16].

Số lượng các loại hoa trên cây là khác nhau, nhiều nhất là hoa đực, tỉ lệ hoa đực trên hoa cái ở một số loài có hoa đơn tính thường là 24:1 trên cùng một gốc. Qua đó ta thấy số lượng hoa đực là rất lớn so với hoa cái nên trong thực tế sản xuất cần tỉa bớt hoa đực không cần thiết. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi cho quá trình thụ phấn tự nhiên thì ta có thể tiến hành thụ phấn cho cây, trung bình một hoa đực thụ cho một đến hai hoa cái để cho tỉ lệ đậu trái cao nhất. Quả: Dưa lưới có quả hình ôval, tròn, thuôn, da quả màu xanh, khi chín thương phẩm ngả xanh vàng và có các đường gân trắng đan xen như lưới nên có tên gọi là vân lưới.

Thịt quả dưa lưới thường màu vàng da cam nghiêng vàng đỏ hay xanh trắng. Quả thường được tạo ra theo chu kỳ, trong đó một số cây sẽ được chọn cho chu kỳ đầu, quả sẽ đặt vào các chu kỳ tiếp theo. Quả thường được thu hoạch ở chu kỳ đầu tiên bởi vì nó sẽ cho ra những quả có chất lượng tốt nhất ( kích thước lớn và hàm lượng đường cao) [14]. Số lượng hạt trong mỗi quả dưa thay đổi theo từng trái và từng giống, có thể lên đến 500 đến 600 hạt mỗi quả.

Yêu cầu ngoại cảnh đối với cây dưa lưới Về nhiệt độ: Dưa lê là cây trồng thuộc họ bầu bí, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nên cây ưa thích khí hậu ấm áp, phát triển tốt trong điều kiện khô, 7 nắng, nóng, không chịu rét và sương giá. Cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ ban ngày là 24 – 29ºC, nhiệt độ ban đêm là 16 – 24ºC, nhiệt độ thấp dưới 10ºC sự sinh trưởng, phát triển bị trở ngại và ngừng hoạt động [4]. Về ánh sáng: Trong điều kiện thời tiết âm u, ẩm độ cao và có mưa phùn dễ gây hiện tượng chết hàng loạt đối với cây trong giai đoạn vừa xuất hiện lá thật. Nếu cây đã lớn, có hoa quả thì bị dòi đục gốc và bệnh héo rũ, phấn trắng phá hại.

Nhưng nếu trời âm u có ít ánh sáng mà nhiệt độ cao thì lại gây hiện tượng rụng nụ, rụng hoa và quả non, thậm chí gây thối quả hoặc quả có màu sắc xấu và vị nhạt ít thơm [11]. Về độ ẩm: Vì có nguồn gốc nhiệt đới nênchúng có khả năng chịu hạn nhưng không chịu úng. Hệ rễ của cây ăn sâu, rễ chính dài, phân nhánh nhiều. Tuy vậy cây lại có khối lượng thân lá lớn, thời gian ra hoa, quả kéo dài, năng suất trên đơn vị diện tích cao nên những thời kì sinh trưởng quan trọng cần phải cung cấp đầy đủ nước.

Độ ẩm thích hợp là 70 - 80%. Độ ẩm không khí thích hợp là 45 - 55%. Độ ẩm cao dễ bị bệnh hại xâm nhiễm. Độ ẩm đất thay đổi đột ngột, nhiệt độ không thích hợp sẽ gây ra hiện tượng quả phát triển không bình thường, không cân đối, dị hình.

Thời kì cần nước là thời kì sinh trưởng thân lá, thời kì hình thành hoa cái và thời kì quả phát triển [4]. Dưa lê tuy không cần nhiều nước trong quá trình sinh trưởng của mình nhưng nếu đất khô hạn hoặc hạn kéo dài, hạt nảy mầm khó khăn, cây sinh trưởng kém, diện tích lá giảm, gây ra hiện tượng rụng nụ, rụng hoa, quả phát triển kém. Vì vậy năng suất và chất lượng quả giảm Về đất và dinh dưỡng: Dưa lê ưa nhất đất thịt nhẹ và cát pha nhất là đất phù sa. Đất cát pha và thịt nhẹ vừa thoát nước, giữ được màu mà còn giữ được nhiệt độ của đất điều hoà, thúc đẩy quá trình phát dục của dưa lê, làm cho dưa lê mau có quả, cho quả có màu sắc hương vị cao.

Nơi có tầng đất canh tác mỏng, nhiều cát, ít màu, khô hạn không những sản lượng thấp mà 8 chất lượng cũng kém. Đối với đất thịt mưa đã giữ nước lâu, nắng hay bị nứt nẻ làm cây bị đứt rễ sẽ không tốt. Dưa lê không đòi hỏi luân canh triệt để như dưa hấu nhưng trồng liên tục trên một mảnh ruộng cũng bị ảnh hưởng tới sản lượng và phẩm chất vì sâu bệnh phá hại, cây trước lấy hết dinh dưỡng cần thiết của cây và sau để lại những tàn dư cặn thải cho cây sau, nên cũng cần hạn chế liên canh [11]. Yêu cầu của cây dưa với NPK là cân đối.

Cây yêu cầu là nhiều kali sau đó là đạm và ít hơn là lân. Cây sử dụng khoảng 93% đạm, 33% lân và 98 - 99% kali trong suốt vụ trồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá khả năng kết hợp và ưu thế lai của dòng dưa lưới tại Quy Nhơn, Bình Định là một nghiên cứu chuyên sâu về việc tối ưu hóa giống dưa lưới thông qua các phương pháp lai tạo và đánh giá khả năng kết hợp giữa các dòng. Bài viết cung cấp cái nhìn chi tiết về cách thức tạo ra các giống dưa lưới có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu tại Quy Nhơn, Bình Định. Điều này không chỉ giúp nông dân cải thiện hiệu quả canh tác mà còn góp phần phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự về cải thiện giống cây trồng, hãy khám phá thêm Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của giống dưa chuột lai GL1, Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và một số biện pháp kĩ thuật nâng cao năng suất chất lượng na dai tại huyện Võ Nhai, và Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sự sinh trưởng phát triển của giống đậu tương DT51. Những bài viết này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp cải thiện năng suất và chất lượng cây trồng thông qua nghiên cứu khoa học.