phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 5 phần sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận về gian lận BCTC Chƣơng 2: Thực trạng gian lận BCTC trong ngành bất động sản Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị Page | 5 Tieu luan Produced with a Trial Version of PDF Annotator - www.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAN LẬN BCTC 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Tài liệu nước ngoài EdWard I.Altman (1968) đã thực hiện nghiên cứu trên một mẫu bao gồm 66 doanh nghiệp để dự đoán về nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp này. Và ông đã tìm ra đƣợc chỉ số Z-Score dùng để dự đoán khả năng phá sản của một công ty trong hai năm sắp tới hoặc để dự đoán khả năng một công ty vỡ nợ. Hàng loạt các thử nghiệm tiếp theo đƣợc thực hiện trong suốt hơn 30 năm. Cho tới năm 1999, 80-90% công ty phá sản đƣợc dự báo nhờ vào chỉ số Z trƣớc ngày phá sản một năm và các gian lận trên BCTC cũng đƣợc phát hiện theo cách này.
Nghiên cứu của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) (1993-2012) đã khảo sát các đối tƣợng nhằm thu thập thông tin về các trƣờng hợp gian lận mà họ chứng kiến từ năm 1993 đến năm 2012. Bài nghiên cứu cho thấy, phần lớn các ngành công nghiệp thực hiện gian lận BCTC là các ngành dịch vụ tài chính và ngân hàng, các cơ quan quản lý công cộng và các doanh nghiệp sản xuất. Hơn nữa, BCTC gian lận thƣờng kéo dài bình quân khoảng 18 tháng trƣớc khi bị phát hiện. Điều đó cho thấy những khó khăn trong việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận BCTC.
KPMG (1999) đã thực hiện nghiên cứu, khảo sát 5.000 công ty nhà nƣớc hàng đầu của Mỹ nhằm xác định mức độ và phạm vi ảnh hƣởng của gian lận BCTC. Kết quả nghiên cứu đã xác định những nguyên nhân quan trọng làm xuất hiện hành vi gian lận này, chính là kiểm soát nội bộ kém, quản lý tệ và áp lực tài chính cá nhân. Bài nghiên cứu cũng đƣa ra một số biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn và phát hiện gian lận BCTC. Cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp, thiết lập tinh thần chung cho các nhà quản lý cấp cao, cung cấp các khóa huấn luyện trong việc ngăn chặn và phát hiện gian lận, thành lập một mã kiểm soát doanh nghiệp, cung cấp nội quy huấn luyện nhân viên… Page | 6 Tieu luan Charalambos T.
Spathis (2002) đã xem xét về tính hữu ích của các chỉ số tài chính và hệ số Z-Score trong việc phát hiện ra gian lận trên BCTC. Mô hình đã xác định các chỉ số tài chính sau hữu ích trong việc phát hiện gian lận trên BCTC: tỷ số hàng tồn kho trên doanh thu, lợi nhuận ròng trên tổng tài sản, tỷ số vốn lƣu động trên tổng tài sản, tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản và hệ số nguy cơ phá sản (Z-Score). Kết quả trên đã cho thấy chỉ số Z-Score hữu ích trong việc phát hiện gian lận. Bài nghiên cứu của Skousen và cộng sự (2009) đã đánh giá mối quan hệ của các yếu tố thuộc Tam giác gian lận với khả năng xảy ra gian lận BCTC.
Có 5 yếu tố có ý nghĩa thống kê gồm: Đặc điểm hội đồng quản trị; Việc năm giữ cổ phiếu bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; Tốc độ tăng trƣởng tài sản; Sự gia tăng nhu cầu tiền mặt và nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài và Số lƣợng thành viên độc lập trong ủy ban kiểm toán. Nghiên cứu của COSO (2010) đã phân tích 347 BCTC gian lận của các công ty ở Mỹ trong suốt 10 năm từ năm 1998 đến năm 2007. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng gian lận BCTC vẫn diễn ra thƣờng xuyên và có dấu hiệu tăng mạnh, liên quan đến cả những công ty lớn nhƣ Enron hay WorldCom… Có đến 26% công ty gian lận thay đổi kiểm toán giữa kỳ BCTC sạch và BCTC gian lận, nhƣng chỉ có 12% công ty không gian lận thay đổi kiểm toán trong cùng thời gian. 60% công ty gian lận thay đổi kiểm toán trong suốt thời kỳ gian lận, trong khi vẫn duy trì 40% công ty gian lận thay đổi kiểm toán trong năm tài chính trƣớc khi gian lận bắt đầu.
Cũng xem xét về các yếu tố thuộc Tam giác gian lận ảnh hƣởng đến gian lận BCTC, nghiên cứu của Lou và Wang (2011) lại chỉ ra 6 yếu tố khác có mối tƣơng quan với hành vi gian lận gồm có: Sai sót trong dự báo của chuyên gia; Tỷ lệ doanh thu cho các bên liên quan; Số lần điều chỉnh BCTC; Đòn bẩy tài chính; Tỷ lệ cổ phiếu của ban giám đốc và hội đồng quản trị bị cầm cố và cuối cùng là Số lần thay đổi kiểm toán viên. Trong nghiên cứu của Tarjo và Nural (2015), tác giả đã sử dụng mô hình M-Score của Beneish (1999) và kết hợp với phƣơng pháp khai phá dữ liệu, cụ thể là kỹ thuật hồi quy Logistic để xác định lại những chỉ số tài chính nào trong mô hình M-Score dự báo đƣợc gian lận BCTC tại các công ty ở Indonesia. Kết quả cho thấy các chỉ số GMI, DEPI, Page | 7 Tieu luan SGAI, TATA có khả năng phát hiện gian lận BCTC. Các chỉ số còn lại là DSRI, AQI, LVGI không thể phát hiện đƣợc gian lận.
Ty lệ phát hiện gian lận của mô hình là 77,1%.2 Tài liệu trong nước Lê Duy Ngọc (2009), “Hoàn thiện thủ tục kiểm toán trong kiểm toán BCTC nhằm phát hiện gian lận và sai sót tại các công ty đại chúng Việt Nam” đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên trong phát hiện gian lận BCTC. Đó là cần nhanh chóng ban hành các chuẩn mực kế toán, kiểm toán còn thiếu và cập nhật những chuẩn mực đã đƣợc ban hành cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện văn bản Luật chứng khoán và ban hành các khung hình phạt dành cho kiểm toán viên và các doanh nghiệp kiểm toán nếu có hành vi vi phạm trách nghiệm nghề nghiệp. Qua bài nghiên cứu “Hoàn thiện thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam” (2011), tác giả Lý Trần Kim Ngân sau khi phân tích các thủ tục kiểm toán hiện hành tại Việt Nam và thế giới đã đƣa ra quan điểm về các giải pháp nhằm hoàn thiện các thủ tục.
Theo tác giả, những giải pháp này cần phải phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và đồng thời phù hợp với môi trƣờng kinh doanh và luật pháp Việt Nam. Ngoài ra, các giải pháp đƣa ra cũng cần hƣớng tới đích cuối cùng là giúp thông tin trên BCTC trở nên minh bạch hơn qua đó giúp thị trƣờng chứng khoán phát triển bền vững, lớn mạnh. Nghiên cứu “Đánh giá rủi ro gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam” của Trần Thị Giang Tân và các cộng sự (2014, trang 74 – 94) đƣợc thực hiện nhằm đánh giá sự hữu hiệu của mô hình tam giác gian lận trong việc phát hiện và dự đoán gian lận ở các công ty niêm yết tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng xảy ra gian lận có mối quan hệ với 3 yếu tố về Động cơ/Áp lực, 1 yếu tố về cơ hội và 2 yếu tố về thái độ.
Mô hình có khả năng dự đoán đúng 83,33% các công ty thuộc mẫu nghiên cứu và khoảng 80% đối với công ty ngoài mẫu nghiên cứu. Page | 8 Tieu luan Bài nghiên cứu “Mô hình Beneish dự đoán sai sót trọng yếu trong BCTC” của Nguyễn Công Phƣơng, Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014; trang 54 – 60) đã giới thiệu mô hình Beneish nhằm dự đoán khả năng phát hiện sai sót trọng yếu trong BCTC. Mô hình này đƣợc sử dụng phổ biến do khả năng dự đoán đúng trên 50% BCTC có sai sót trọng yếu hoặc gian lận. Kết quả này gợi ý rằng, mô hình này có thể đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ hỗ trợ cho các kiểm toán viên để đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC.
Hoàng Khánh và Trần Thị Thu Hiền (2015), “Phát hiện sai phạm BCTC của các doanh nghiệp niêm yết” đã dựa vào mô hình nghiên cứu của DeAngelo (1986), Friedlan (1994) và Benneish (1999) để xây dựng nên hai mô hình định lƣợng nhằm phát hiện ra sai phạm trên BCTC của các công ty xây dựng đang niêm yết trên sàn. Mô hình thứ nhất, tác giả sử dụng biến phụ thuộc là M và tám biến độc lập nhƣ trong mô hình Beneish (1999). Mô hình thứ hai, tác giả thêm hai biến độc lập vô mô hình đầu tiên là biến DA (biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh) và SIZE. Khả năng phát hiện gian lận của từng mô hình lần lƣợt là 63,41% và 68,29%.
“Ảnh hƣởng của chênh lệch số liệu trƣớc và sau kiểm toán đến khả năng gian lận BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Huyền Trân, Nguyễn Đình Hùng (2016) nghiên cứu sự chênh lệch của BCTC trƣớc và sau kiểm toán ở các khoản mục, từ đó thực hiện phân tích hồi quy để đƣa ra các biến có ý nghĩa thống kê tại thị trƣờng Việt Nam nhằm xây dựng mô hình F-score cho Việt Nam. Trần Việt Hải (2017) “Nhận diện gian lận trên BCTC của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm tại sàn giao dịch chứng khoán HOSE” đã phân loại các công ty có gian lận hay không thông qua mô hình Benish (1999) sau đó tiến hành phân tích và cuối cùng đƣa ra đƣợc 10 biến độc lập cho mô hình nghiên cứu gian lận BCTC của mình. Kết quả mô hình đã phân loại đƣợc chính xác các công ty có gian lận với tỷ lệ là 68,7%. “Ứng dụng mô hình M-Score trong việc phát hiện sai sót thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết” của Ca Thị Ngọc Tố (2017) đã dựa vào mô hình M-Score gốc của Beneish (1999) và kỹ thuật hồi quy Logistic để xây dựng mô hình định lƣợng nhằm Page | 9 Tieu luan phát hiện sai sót thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp trên sàn HOSE và HNX.
Kết quả, tác giả đã loại trừ ba biến độc lập so với mô hình M-Score do không có ý nghĩa thống kê, còn lại năm biến có ý nghĩa đó là biến LVGI, SGI, GMI, SGAI, DEPI. Đây là điểm khác biệt so với mô hình M-Score gốc của Beneish. Tuy nhiên, khả năng dự báo của mô hình này lại cao hơn (80,83%).