Tổng quan nghiên cứu

Lúa là cây lương thực thiết yếu nuôi sống hơn một nửa dân số thế giới, tuy nhiên khoảng 40% diện tích canh tác lúa toàn cầu phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời và thường xuyên đối mặt với nguy cơ hạn hán. Hàng năm, khô hạn có thể làm sụt giảm tới 70% năng suất cây trồng nông nghiệp. Tại Việt Nam, trong tổng số 4,36 triệu hecta đất lúa thì có hơn 2,1 triệu hecta chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh bất lợi, với diện tích bị khô hạn hàng năm lên tới 0,4 triệu hecta. Điển hình như đợt hạn lịch sử năm 1998 đã khiến 898.962 hecta lúa bị tổn thất và 122.081 hecta mất trắng hoàn toàn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tần suất hạn hán khốc liệt tại các vùng sinh thái nông nghiệp miền Bắc, đặc biệt trong giai đoạn đẻ nhánh vụ Xuân và giai đoạn sau trỗ vụ Mùa. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá đa dạng nguồn gen chịu hạn của tập đoàn 150 mẫu giống lúa địa phương và nhập nội, xác định các alen chịu hạn thông qua chỉ thị phân tử SSR, đồng thời phân tích các chỉ tiêu nông sinh học then chốt dưới áp lực hạn nhân tạo ở mức thế nước -60 kPa.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 3/2017 đến tháng 9/2017 tại phòng thí nghiệm, nhà lưới và khu thực nghiệm của Trung tâm Tài nguyên thực vật (Hoài Đức, Hà Nội). Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc sàng lọc thành công 7 mẫu giống lúa ưu tú mang alen chịu hạn với 2 chỉ thị phân tử, cung cấp nguồn vật liệu khởi đầu giá trị cho công tác bảo tồn, lai tạo và phát triển các bộ giống lúa thích ứng cho hơn 0,4 triệu hecta đất canh tác khó khăn về nguồn nước tưới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cân bằng nước thực vật và cơ chế phản ứng thẩm thấu tế bào khi gặp stress hạn do Dere (1980) và các nhà sinh lý học thực vật quốc tế phát triển. Lý thuyết chỉ ra rằng khi tế bào bị thiếu nước, sự duy trì thế nước trong lá thông qua khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu màng tế bào, quá trình tích lũy các hợp chất bảo vệ như proline, trehalose và sự kích hoạt của nhóm protein LEA đóng vai trò cốt lõi giúp bảo vệ cấu trúc đại phân tử khỏi tổn thương.

Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết di truyền tính trạng số lượng và phương pháp chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (Marker-Assisted Selection - MAS) của Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang (2007). Khung lý thuyết này phân định rõ tính chịu hạn ở lúa được kiểm soát bởi đa gen (QTLs) liên kết với các tính trạng hình thái và sinh lý. Ba khái niệm chuyên ngành nền tảng được làm rõ gồm: cơ chế tránh hạn thông qua bộ rễ ăn sâu; cơ chế chịu hạn qua khả năng điều tiết đóng mở khí khổng và giữ nước dịch bào; chỉ thị vi vệ tinh SSR (Simple Sequence Repeats) có tính đa hình cao để phát hiện alen mục tiêu.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 150 mẫu giống lúa thuần và lúa địa phương được thu thập từ nguồn gen lưu trữ của Trung tâm Tài nguyên thực vật và Viện Cây lương thực - Cây thực phẩm. Phương pháp chọn mẫu áp dụng theo hướng chọn lọc phân cấp đa tầng: sàng lọc diện rộng ở giai đoạn nảy mầm (150 giống), định danh phân tử (35 giống), và đánh giá nông sinh học chuyên sâu (7 giống). Phương pháp phân tích phân cấp này được lựa chọn nhằm tối ưu hóa chi phí thực nghiệm, sàng lọc nhanh lượng mẫu lớn và đảm bảo tính chính xác cao nhờ đối chiếu giữa kiểu hình với kiểu gen.

Quy trình nghiên cứu gồm ba bước thực nghiệm chính:

  • Thí nghiệm nảy mầm nhân tạo: Hạt của 150 giống được ủ nảy mầm trong dung dịch Sacarin 1% và muối KClO3 3% trong 7 ngày (20 hạt/đĩa petri, lặp lại 3 lần) để đánh giá tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ rễ mầm đen.
  • Phân tích sinh học phân tử: Tách chiết ADN tổng số từ lá non bằng quy trình CTAB của Keb-Llanes (2002), kiểm tra nồng độ đạt trên 100 ng/µl và nhận dạng alen chịu hạn bằng phản ứng PCR với 2 cặp chỉ thị SSR là RM302 (kích thước 156 bp) và RM3825 (kích thước 147 bp) trên gel polyacrylamide 8%.
  • Thử nghiệm chậu vại trong nhà lưới: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) 2 nhân tố với 3 lần nhắc lại, gồm 14 công thức và tổng số 210 chậu (mỗi chậu chứa 5 kg đất phù sa bón tỷ lệ 120 kg N : 90 kg P2O5 : 90 kg K2O/ha). Hạn nhân tạo được gây ra ở giai đoạn đẻ nhánh và trỗ bằng cách rút nước đến ngưỡng thế nước -60 kPa đo bằng Tensionmeter. Số liệu được thu thập định kỳ 2 tuần/lần và xử lý phương sai (ANOVA) qua phần mềm Minitab 16 và Excel trong khung thời gian 7 tháng từ tháng 3 đến tháng 9/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, ở giai đoạn nảy mầm nhân tạo, trong 150 giống lúa khảo sát, có 43 giống (chiếm 28,6%) trong môi trường Sacarin 1% và 49 giống (chiếm 32,7%) trong môi trường KClO3 3% đạt tỷ lệ nảy mầm ở mức tốt từ 80% đến 100%. Đánh giá về tỷ lệ rễ mầm đen trong dung dịch KClO3 3% xác định được 28 giống (chiếm 18,6%) có độ tổn thương thấp dưới 20%. Tổng hợp cả hai chỉ tiêu đã chọn lọc được 35 giống ưu tú có tỷ lệ nảy mầm trên 80,0% và tỷ lệ rễ mầm đen dưới 40,0%.

Thứ hai, kết quả phân tích di truyền bằng chỉ thị SSR trên 35 giống lúa cho thấy: mồi RM302 phát hiện 16 giống mang alen chịu hạn, mồi RM3825 phát hiện 15 giống mang alen chịu hạn. Đáng chú ý, có 7 giống lúa mang đồng thời cả 2 alen chịu hạn gồm: LC22-7, CH7, CH207, Lúa nương Lạng Sơn, IR58200, Tẻ Mèo và Bao Thai.

Thứ ba, khi gây hạn ở giai đoạn đẻ nhánh với mức áp lực -60 kPa, số lá trên thân chính của các giống chỉ giảm nhẹ từ 1,9% đến 5,6% so với đối chứng, nhưng số nhánh đẻ bị ức chế nghiêm trọng. Tại thời điểm 6 tuần sau cấy, số nhánh đẻ của giống Lúa nương Lạng Sơn giảm mạnh 35,0% và Tẻ Mèo giảm 28,3%. Đến giai đoạn trỗ, hai giống CH7 và Bao Thai phục hồi tốt nhất với tỷ lệ giảm số nhánh đẻ so với đối chứng chỉ còn lần lượt là 9,1% và 10,7%.

Thứ tư, khi xử lý hạn ở giai đoạn trỗ, các yếu tố cấu thành năng suất bị tác động nghiêm trọng nhất. Tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1000 hạt sụt giảm mạnh, dẫn đến năng suất thực thu của hầu hết các giống giảm sâu, trong đó giống Lúa nương Lạng Sơn mẫn cảm nhất với mức suy giảm năng suất thực thu trên 50,0%. Ngược lại, giống CH7 thể hiện khả năng chống chịu và phục hồi vượt trội nhất ở tất cả các chỉ tiêu đo đếm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm sinh trưởng là do áp lực hạn ở giai đoạn đẻ nhánh làm giảm sức trương tế bào mô phân sinh, khiến tốc độ phân nhánh chậm lại. Trong khi đó, hạn hán ở giai đoạn trỗ cản trở quá trình thụ phấn, làm giảm lượng gibberellin nội sinh và gia tăng tỷ lệ thoái hóa hoa, trực tiếp làm tụt giảm tỷ lệ hạt chắc.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với nghiên cứu của Fischer (2003) và Chu (2014), chứng minh rằng các giống có bộ rễ khỏe và tích lũy chất khô tốt sẽ hạn chế mức giảm năng suất từ 9,2% đến 13,4%. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ suy giảm phần trăm nhánh đẻ qua các tuần sau cấy, kết hợp với bảng ma trận đối chiếu giữa sự xuất hiện của các băng ADN trên ảnh điện di với năng suất thực thu (g/khóm) để làm rõ mối tương quan kiểu gen - kiểu hình.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, triển khai khảo nghiệm đồng ruộng diện rộng đối với giống CH7 và Bao Thai: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Sở Nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía Bắc cần đưa hai giống này vào sản xuất thử nghiệm trên quy mô 50 - 100 hecta tại các vùng đất dốc, ruộng bậc thang thiếu nước trong khung thời gian 2018 - 2020, hướng tới mục tiêu duy trì năng suất ổn định từ 3,0 đến 3,5 tấn/ha trong điều kiện khô hạn.

Thứ hai, ứng dụng 7 nguồn gen chọn lọc vào chương trình lai tạo giống mới: Các viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện Cây lương thực - Cây thực phẩm và Viện Di truyền Nông nghiệp cần sử dụng ngay các dòng LC22-7, CH7, CH207, IR58200 làm vật liệu bố mẹ trong các tổ hợp lai trở lại, ứng dụng chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (MAS với mồi RM302 và RM3825) trong giai đoạn 2019 - 2023 nhằm rút ngắn thời gian tạo giống chịu hạn xuống còn 3 - 4 thế hệ.

Thứ ba, ban hành quy trình canh tác tưới tiết kiệm nước: Cục Trồng trọt cần phối hợp với các nhà khoa học xây dựng sổ tay kỹ thuật áp dụng công nghệ tưới ngập - khô xen kẽ, kiểm soát thế nước không để tụt sâu dưới ngưỡng -60 kPa trong giai đoạn đẻ nhánh và trỗ bông, nhằm tiết kiệm 25% đến 30% lượng nước tưới mà vẫn đảm bảo tỷ lệ hạt chắc trên 80%.

Thứ tư, số hóa và bảo tồn an toàn nguồn gen lúa chịu hạn: Trung tâm Tài nguyên thực vật cần tiến hành lưu trữ dài hạn và lập hồ sơ ADN chi tiết cho 35 mẫu giống lúa chịu hạn đã xác định, hoàn thành việc nhập dữ liệu vào hệ thống ngân hàng gen quốc gia trước năm 2020 với tỷ lệ nảy mầm bảo tồn đạt trên 95%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà khoa học và chuyên gia chọn tạo giống cây trồng: Cung cấp quy trình tích hợp giữa phương pháp sàng lọc hóa sinh (Sacarin, KClO3) và chỉ thị phân tử SSR để rút ngắn chu kỳ chọn lọc các dòng lúa chịu stress phi sinh học.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Khoa học cây trồng, Di truyền học: Nắm bắt phương pháp thiết kế thí nghiệm đa nhân tố trong nhà lưới, kỹ thuật kiểm soát áp lực hạn bằng Tensionmeter ở mức -60 kPa và quy trình điện di polyacrylamide phân tích marker phân tử.

Cán bộ quản lý nông nghiệp và khuyến nông tại các vùng khô hạn: Tiếp cận luận cứ khoa học để xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu giống lúa thích ứng cho hơn 0,4 triệu hecta đất canh tác thường xuyên thiếu nước tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ.

Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hạt giống nông nghiệp: Khai thác tiềm năng thương mại hóa và phát triển sản phẩm giống lúa thuần chịu hạn năng suất cao như CH7 phục vụ các thị trường canh tác khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lại sử dụng dung dịch Sacarin 1% và KClO3 3% để sàng lọc tính chịu hạn ở giai đoạn nảy mầm?
Dung dịch Sacarin 1% tạo áp suất thẩm thấu cao gây cản trở hạt hút nước, trong khi KClO3 3% đánh giá sức bền màng tế bào và khả năng chống chịu độc chất. Phương pháp chuẩn của IRRI này đã sàng lọc chính xác 35 trong 150 giống đạt tỷ lệ nảy mầm trên 80,0% và rễ mầm đen dưới 40,0%.

Hai chỉ thị phân tử RM302 và RM3825 có vai trò gì trong việc xác định tính chịu hạn ở cây lúa?
Đây là hai chỉ thị vi vệ tinh liên kết chặt chẽ với các locus QTL kiểm soát tính trạng cuốn lá, phục hồi mô lá và năng suất hạt khi thiếu nước. Qua điện di, nghiên cứu đã định danh chính xác 7 giống mang đồng thời cả hai alen có lợi này.

Giai đoạn sinh trưởng nào của cây lúa chịu tổn thương nặng nề nhất khi bị hạn hán?
Cây lúa mẫn cảm nhất ở giai đoạn trỗ bông và đẻ nhánh. Mức hạn -60 kPa ở giai đoạn đẻ nhánh làm giảm tới 35,0% số nhánh, nhưng hạn ở giai đoạn trỗ gây thiệt hại nghiêm trọng nhất do làm giảm tỷ lệ hạt chắc, khiến năng suất thực thu sụt giảm trên 50,0%.

Giống lúa nào thể hiện khả năng thích ứng và phục hồi tốt nhất trong nghiên cứu?
Giống CH7 cho thấy tính chống chịu và phục hồi vượt trội nhất qua tất cả các chỉ tiêu. Khi bị hạn ở giai đoạn đẻ nhánh, số nhánh của CH7 lúc trỗ chỉ giảm 9,1% so với đối chứng, đồng thời giữ vững tỷ lệ hạt chắc và năng suất thực thu cao nhất.

Giống Lúa nương Lạng Sơn có đặc điểm phản ứng như thế nào với hạn hán?
Mặc dù mang cả hai alen chịu hạn, giống Lúa nương Lạng Sơn lại mẫn cảm nhất trong điều kiện hạn chậu vại, có số nhánh giảm 35,0% ở tuần thứ 6 và năng suất thực thu sụt giảm trên 50,0% so với đối chứng không gây hạn.

Kết luận

  • Đã sàng lọc thành công tập đoàn 150 mẫu giống lúa trong điều kiện hạn nhân tạo, xác định được 35 giống đạt tỷ lệ nảy mầm cao trên 80,0% và tỷ lệ rễ mầm đen thấp dưới 40,0%.
  • Ứng dụng thành công 2 chỉ thị phân tử SSR (RM302 và RM3825), xác định chính xác 7 giống lúa mang đồng thời cả hai alen chịu hạn gồm: LC22-7, CH7, CH207, Lúa nương Lạng Sơn, IR58200, Tẻ Mèo và Bao Thai.
  • Đánh giá toàn diện các chỉ tiêu sinh trưởng dưới áp lực hạn -60 kPa, khẳng định hạn giai đoạn trỗ gây suy giảm năng suất mạnh nhất; trong đó giống CH7 có khả năng chống chịu và phục hồi tối ưu nhất, còn giống Lúa nương Lạng Sơn mẫn cảm nhất với mức giảm năng suất trên 50,0%.
  • Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2018 - 2022 là mở rộng sản xuất thử nghiệm giống CH7 và đẩy mạnh khai thác 7 nguồn gen này trong các chương trình lai tạo giống nhờ chỉ thị phân tử MAS.
  • Các cơ quan quản lý và đơn vị nghiên cứu cần tăng cường phối hợp chuyển giao các bộ giống triển vọng vào thực tế sản xuất nhằm nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu cho ngành trồng trọt.