Đặt vấn đề Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lƣơng thực ngắn ngày thuộc họ hoà thảo có giá trị kinh tế, giá trị dinh dƣỡng khá cao và giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng của nƣớc ta hiện nay. Thống kê năm 1998 cho thấy, cả nƣớc có 7362400 ha đất trồng lúa và sản lƣợng thóc đạt 29,14 triệu tấn, bình quân năng suất đạt 35,58 tạ/ha [18]. Tuy nhiên, cây lúa chịu ảnh hƣởng lớn của chế độ nƣớc, điều kiện nhiệt độ và nhiều yếu tố bất lợi khác của môi trƣờng (mặn, phèn…). Trong những yếu tố bất lợi, hạn hán đƣợc xem là nhân tố chính làm giảm năng suất lúa.
Ở Việt Nam hàng năm diện tích lúa nƣớc bị khô hạn lên tới 0,4 triệu ha [17]. Trong 130 triệu ha đất trồng lúa trên thế giới thì có tới 26 triệu ha đất bị hạn nặng gây ảnh hƣởng đến năng suất [3]. Để nâng cao và ổn định sản lƣợng lúa trong điều kiện khô hạn nhằm làm giảm thiểu thiệt hại do hạn hán gây ra bằng việc xác định và chọn tạo ra những giống lúa có khả năng chịu hạn đã trở thành một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay. Để tạo đƣợc giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt thích nghi với các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau và đa dạng nguồn gen, nhiều nghiên cứu đã đƣợc thực hiện để cải thiện giống thông qua phƣơng pháp chọn dòng biến dị soma.
Chọn dòng tế bào thực vật là một hƣớng mới cho cải tạo giống cây trồng, khắc phục những hạn chế của phƣơng pháp truyền thống. Kỹ thuật nuôi cấy in vitro tạo ra những biến đổi về kiểu gen và kiểu hình, vì vậy có thể chọn lọc đƣợc các dòng tế bào khác nhau về đặc điểm sinh lý, sinh hóa… theo định hƣớng của ngƣời thực nghiệm. Phƣơng pháp này cho phép thu đƣợc những dòng và giống có khả năng chống chịu cao với các điều kiện bất lợi của môi trƣờng [3]; [7]; [14]; [18]; [20]. Sự ra đời và phát triển các kỹ thuật sinh học phân tử nhƣ PCR, RT-PCR, RFLP, SSR, các kỹ thuật tách dòng và đọc trình tự gen.
đã và đang đƣợc ứng dụng trong phân tích genom ở thực vật. Các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại giúp các nhà nghiên cứu chọn giống phân tích và đánh giá bộ gen của thực vật một cách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 nhanh chóng, xác định sự thay đổi của các dòng chọn lọc ở mức độ phân tử; tách dòng và chuyển các gen có giá trị kinh tế để nâng cao chất lƣợng và khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi [12]. Các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại đã trở thành công cụ đắc lực trong lĩnh vực chọn giống cây trồng góp phần vào sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, đảm bảo nhu cầu lƣơng thực và chất lƣợng thực phẩm cho con ngƣời. Xuất phát từ những cơ sở trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá một số dòng lúa chọn lọc thế hệ R3, R4 có nguồn gốc từ mô sẹo chịu mất nước”.
Mục tiêu nghiên cứu - Chọn đƣợc một số dòng lúa triển vọng có nguồn gốc từ mô sẹo chịu mất nƣớc để giới thiệu khảo nghiệm giống. - Phân lập và giải trình tự gen liên quan đến tính trạng chiều cao cây của một trong các dòng chọn lọc. Nội dung nghiên cứu 3. Phân tích một số đặc điểm nông học của các dòng có nguồn gốc từ mô sẹo chịu mất nƣớc ở thế hệ R3, R4.
Đánh giá chất lƣợng hạt thông qua phân tích một số chỉ tiêu hoá sinh: protein, đƣờng tan, lipit, điện di protein, thành phần và hàm lƣợng axit amin. Đánh giá khả năng chịu hạn của các dòng chọn lọc thế hệ R4 ở mức độ mô sẹo và giai đoạn cây mạ. Phân lập và giải trình tự gen liên quan đến chiều cao cây của một trong các dòng chọn lọc triển vọng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
GIỚI THIỆU VỀ CÂY LÖA 1. Nguồn gốc và phân loại Lúa trồng (Oryza sativa L.) là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời, nhất là vùng châu Á. Lúa trồng hiện nay có nguồn gốc từ lúa dại (Oryza fatua, Oryza off Cinalis, Oryza minuta) do quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo lâu dài tạo nên [22]. Lúa thuộc ngành thực vật có hoa (Angios permes), lớp một lá mầm (Mono Cotyledones), bộ hoà thảo có hoa (Poales), họ hoà thảo (Proaceae) trƣớc đây gọi là họ Graminae).
Lúa trồng thuộc chi Oryza, chi Oryza có 23 loài phân bố rộng khắp thế giới. Loài Orazy sativa L. đƣợc trồng phổ biến ở khắp các nƣớc trên thế giới và phần lớn tập trung ở châu Á. Loài Oryza gluberrima S.
đƣợc trồng một diện tích nhỏ ở một số nƣớc thuộc châu Phi [22]. Loài Oryza sativa L. đƣợc chia làm ba loài phụ: - Loài phụ Japonica phân bố ở những nơi có vĩ độ cao (bắc Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên), có những đặc điểm nhƣ chịu rét cao, nhƣng ít chịu sâu bệnh. - Loài phụ Indica đƣợc trồng ở các nƣớc nhiệt đới và cận nhiệt đới (Việt Nam, Ấn Độ, Mianma, Philippin).
Loài phụ Indica có đặc điểm: hạt dài, thân cao, mềm, dễ đổ, chịu sâu bệnh khá, năng suất thấp, mẫn cảm với chu kỳ ánh sáng. - Loài phụ Javanica có hình thái trung gian. Hạt dài nhƣng dày và rộng hơn hạt của Indica, chỉ đƣợc trồng ở một vài nơi thuộc Indonesia [22]; [41]. Đặc điểm nông sinh học của cây lúa Lúa là cây thân thảo sinh sống hàng năm.
Thời gian sinh trƣởng của các giống dài ngắn khác nhau và nằm trong khoảng 60 - 250 ngày tuỳ theo giống ngắn ngày hay dài ngày, vụ lúa chiêm hay mùa, cấy sớm hay muộn. Chu kỳ sinh trƣởng, phát triển của cây lúa bắt đầu từ hạt và cây lúa cũng kết thúc một chu kỳ của nó khi tạo ra hạt mới. Quá trình sinh trƣởng và phát triển của cây lúa có thể đƣợc chia làm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 hai giai đoạn: Giai đoạn sinh trƣởng đƣợc tính từ thời kì mạ đến đẻ nhánh; Giai đoạn sinh thực tính từ thời kì làm đốt đến hạt chín. Các nhân tố sinh thái (nhiệt độ, ánh sáng, nƣớc, đất…) thƣờng xuyên ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và phát triển của cây lúa, trong đó nhiệt độ có tác dụng quyết định.
Ở mỗi giai đoạn sinh trƣởng, cây lúa yêu cầu nhiệt độ khác nhau, nhiệt độ thích hợp nhất là 280C - 320C, ngừng sinh trƣởng khi nhiệt độ dƣới 130C. Nhiệt độ tối thích cho nảy mầm là 200C - 350C, ra rễ là 250C - 280C, vƣơn lá là 310C [1]. Ánh sáng tác động tới cây lúa thông qua cƣờng độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng. Quang hợp của lúa nƣớc tiến hành thuận lợi ở 250–400 cal/cm2/ngày [8].
Cƣờng độ ánh sáng trong ngày ảnh hƣởng đến quá trình ra hoa, kết quả ở lúa. Dựa vào phản ứng quang chu kỳ ngƣời ta chia cây lúa làm 3 loại: loại phản ứng với ánh sáng ngày dài, yêu cầu thời gian chiếu sáng trên 13 giờ/ngày; loại phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, yêu cầu thời gian chiếu sáng dƣới 13 giờ/ngày; loại phản ứng trung tính có thể ra hoa trong bất cứ điều kiện ngày ngắn hay ngày dài [3]. Lúa yêu cầu nhiều nƣớc hơn các cây trồng khác, để tạo ra 1g chất khô cây lúa cần 628g nƣớc. Lƣợng nƣớc cần thiết cho cây lúa trung bình 6 – 7mm/ngày trong mùa mƣa, 8 – 9mm/ngày trong mùa khô.
Đất trồng lúa tốt nhất là đất thịt, trung tính đến sét, có hàm lƣợng N, P, K tổng số cao; pH = 4,5 – 7,0, độ mặn nhỏ hơn 0,5% tổng số muối tan [3]; [8]. Giá trị kinh tế Trong cơ cấu sản xuất lƣơng thực của thế giới, lúa gạo chiếm 26,5%. Sản lƣợng lúa đã vƣợt lên đứng thứ nhất trong các cây lƣơng thực với tổng sản lƣợng là 650 triệu tấn/năm. Trong gạo có đầy đủ các thành phần dinh dƣỡng nhƣ tinh bột (62,5%), protein (7-10%), lipit (1-3%), xenlulozơ (10,9%), nƣớc 11%.
Ngoài ra, gạo còn chứa một số chất khoáng và các vitamin nhóm B, các axit amin thiết yếu nhƣ lyzin, triptophan và threonin…Chất lƣợng gạo thay đổi theo thành phần axit amin, điều này phụ thuộc vào từng giống. Do thành phần các chất dinh dƣỡng tƣơng đối ổn định và cân đối nên lúa gạo đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Ngoài ra, lúa gạo còn đƣợc sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm, y Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 học… Lƣợng vitamin B trong cám gạo có tác dụng chữa bệnh phù nề, tiêu hoá kém. Vỏ trấu dùng trong công nghiệp sản xuất vật liệu, phân bón.
Rơm, rạ, cám làm thức ăn cho gia súc, trồng nấm…[8]. Ngày 31/10/2003 cơ quan nông lƣơng Liên Hợp Quốc (FAO) đã ra tuyên bố năm 2004 là năm quốc tế về lúa gạo với khẩu hiệu “Cây lúa là cuộc sống”. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam Cây lúa đƣợc gieo trồng từ 300 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam gồm 150 nƣớc trồng lúa. Theo thống kê của FAO (1997), khoảng 92% diện tích trồng lúa tập trung ở châu Á; 3,6% ở châu Phi; 3,1% ở Nam Mỹ; 5% còn lại ở Bắc Mỹ, Anh, Australia với diện tích khoảng 147 triệu ha, sản lƣợng 564,58 triệu tấn (1997) [16].
Diện tích trồng lúa có xu hƣớng giảm nhƣng sản lƣợng lại tăng đáng kể. Năm 1980 năng suất lúa của thế giới là 28,35 tạ/ha/vụ, tới năm 1997 đã đạt gần 40 tạ/ha/vụ và sản lƣợng lúa gạo sản xuất ở châu Á chiếm 91% so với tổng sản lƣợng lúa trên thế giới [8]. Việt Nam là một trong 10 nƣớc sản xuất lúa gạo lớn nhất trên thế giới. Năm 1980, diện tích trồng lúa là 5,6 triệu ha, sản lƣợng 23,5 triệu tấn.
Đến năm 1997, diện tích trồng lúa là 7091,2 nghìn ha, năng suất lúa đạt 39 tạ/ha cho tổng sản lƣợng là 27,6 triệu tấn. Năm 2005, mặc dù có những diễn biến bất lợi về thời tiết tới 40% diện tích lúa ở đồng bằng sông Cửu Long bị hạn nặng song tổng sản lƣợng lúa trên cả nƣớc vẫn đạt 36 triệu tấn. Từ chỗ hàng năm phải nhập 0,8 triệu tấn lƣơng thực quy ra gạo, đến nay nƣớc ta không những đã tự túc đƣợc lƣơng thực mà còn xuất khẩu gạo nhiều thứ 2 trên thế giới (3,8 – 4,0 triệu tấn/năm). HẠN VÀ CƠ CHẾ CHỊU HẠN 1.
Khái niệm về hạn Hạn là hiện tƣợng thƣờng xuyên xảy ra trong tự nhiên dẫn đến tình trạng thiếu nƣớc, đặc biệt đối với thực vật .