CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về nguồn vốn Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Đây được coi như là một định chế tài chính cơ bản trong đời sống kinh tế, hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ tài sản nợ (nghiệp vụ huy động vốn); nghiệp vụ tài sản có (nghiệp vụ cho vay) và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ tư vấn, thanh toán hộ, giữ hộ.
Các nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Theo tác giả Phan Thị Thu Hà trong cuốn Ngân hàng thương mại thì Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất định. Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại như sau: “Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập ho c huy động được dùng để cho vay, đầu tư ho c thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”.
(Phan Thị Thu Hà, 2007) Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng thương mại. Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn 9 rỗi. Họ chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: ho c lấy lãi, ho c nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng. Như vậy, có thể hiểu vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền được ngân hàng tạo lập và huy động để đầu tư cho vay, đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Khái niệm về hoạt động huy động vốn Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập ho c huy động được dùng để đầu tư, cho vay ho c thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Nguồn vốn chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM và quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Theo Nghị định số 57/2012/NĐ-CP của Chính Phủ quy định nguồn vốn của ngân hàng bao gồm 2 loại chính là vốn sở hữu và vốn huy động. Có thể hiểu vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả.
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ NHTM nào. Vốn huy động có các đ c điểm cơ bản: + Vốn huy động trong ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn này. + Vốn huy động là nguồn vốn không ổn định, vì khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc nên ngân hàng thương mại cần phải duy trì 1 khoản dự trữ thanh khoản để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.
+ Có chi phí sử dụng vốn tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. + Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh cao gay gắt giữa các ngân hàng. + Vốn huy động chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các ngân hàng thương mại không được sử dụng nguồn vốn này để đầu tư. 10 Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn là hoạt động khởi đầu cho các hoạt động khác trong ngân hàng thương mại. Hoạt động huy động vốn ngày càng mở rộng thì uy tín cũng như vị thế của ngân hàng sẽ càng ngày càng được khẳng định, ngân hàng sẽ chủ động được trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. NHTM được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.
Các hình thức huy động vốn 1. Huy động vốn thông qua nghiệp vụ tiền gửi Nhận tiền gửi là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân… trong xã hội thông qua quá trình nhận tiền gửi, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghịệp vụ kinh doanh khác. Bản chất của tài khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng khách hàng khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nó để cho vay, chiết khấu, thanh toán… nhưng không có quyền sở hữu, Ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi ho c khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử dụng. Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động của các Ngân hàng thương mại.
+ Tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi (trả lãi thấp) ho c không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng. Người gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thu hộ tiền, trả hộ tiền. với một mức phí thấp.
Các ngân hàng có thể sử dụng các số dư tiền gửi khách hàng vào các hoạt động của mình. 11 + Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi. Tuy khoản tiền này không tiện lợi bằng tiền gửi thanh toán (do khi cần tiền phải đến ngân hàng để rút) nhưng bù lại tiền gửi có kỳ hạn lại có lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn được ghi trên hợp đồng.
+ Tiền gửi tiết kiệm dân cư: Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó. Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng. Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, để thu hút nguồn tiền này các ngân hàng luôn đưa ra các hình thức huy động đa dạng như tiết kiệm bằng VNĐ, bằng vàng và bằng ngoại tệ, với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn và với nhiều kỳ hạn để người gửi có nhiều cơ hội lựa chọn cho phù hợp, tiện ích nhất + Tiền gửi của các ngân hàng khác: Đây là nguồn tiền gửi có qui mô thường nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau.
Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình. Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một khoản thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa TCTD và người mua. Đây chính là việc các NH thương mại phát hành các chứng từ như: Kỳ phiếu NH có mục đích, trái phiếu NH và chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn ngắn hạn và dài hạn vào NH. - Kỳ phiếu NH là loại chứng từ có giá được ngân hàng phát hành để huy động tiết kiệm trong xã hội nhằm mục đích phục vụ cho việc kinh doanh trong 12 thời kỳ nhất định.
Thời hạn của kỳ phiếu còn phụ thuộc vào chính sách huy động vốn của ngân hàng, có thể là: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, trên 12 tháng. - Trái phiếu NH là công cụ huy động vốn dài hạn vào NH, nó là một loại chứng khoán có thể dùng để mua bán trên thị trường chứng khoán. Ở nước ta, trái phiếu có kỳ hạn trên một năm. Khi NH phát hành trái phiếu thì ngân hàng có mục đích dùng số vốn đó để đầu tư vào các dự án mang tính chất dài hạn như: đầu tư vào các công trình, dự án liên doanh, cho vay dài hạn… Đối với khách hàng, trái phiếu NH là một khoản đầu tư mang lại thu nhập ổn định và ít rủi ro so với cổ phiếu doanh nghiệp.
Huy động vốn từ các tổ chức tín dụng khác và Ngân hàng Nhà nước Huy động vốn từ các tổ chức tín dụng là nguồn vốn các ngân hàng thương mại vay mượn lẫn nhau và vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động ho c giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thì để đảm bảo thanh khoản. Như vậy, nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung ho c thay thế cho nguồn vay mượn từ ngân hàng trung ương.
Quá trình vay mượn giữa các tổ chức tín dụng rất đơn giản. Ngân hàng cần vốn chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay ho c thông qua ngân hàng đại lý.