Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của N gân hàng thương mại. • Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại N gân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Thừa Thiên Huế. • Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại N gân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển - chi nhánh Thừa Thiên Huế. - Phần III: Kết luận 4 PHẦ II: ỘI DU G GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: HỮ G LÝ LUẬ CƠ BẢ VỀ HOẠT ĐỘ G CHO VAY KHÁCH HÀ G CÁ HÂ CỦA GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI 1.
Khái quát về hoạt động cho vay của HTM 1. Khái niệm hoạt động cho vay ngân hàng thương mại Theo Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 đã quy định: Cho vay - một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng, là một giao dịch giữa hai chủ thể trong đó bên cho vay (N gân hàng) chuyển giao tài sản cho bên đi vay (Doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình, …) sử dụng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc đời sống trong một khoảng thời gian theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Chức năng của ngân hàng thương mại 1. Chức năng trung gian tín dụng Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay.
Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đNy sự phát triển của nền kinh tế. Chức năng trung tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại, đó là đi vay để cho vay, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. Chức năng trung gian thanh toán N gân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền 5 thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng. Chức năng này của ngân hàng thương mại góp phần thúc đNy lưu thông hàng hóa, đNy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Đồng thời, chức năng này của ngân hàng thương mại đã góp phần giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, giúp tiết kiệm các chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, bảo quản tiền,. Chức năng tạo tiền Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch. Quá trình tạo tiền chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cả hệ thống ngân hàng thương mại chứ bản thân một ngân hàng thương mại thì không thể tạo ra tiền được.
Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiền thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại Bao gồm 3 chức năng cơ bản: 1. ghiệp vụ huy động vốn N ghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ huy động, tạo nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng thương mại. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.
N ghiệp vụ huy động vốn được phản ánh thông qua cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại, bao gồm: vốn của ngân hàng, vốn huy động, vốn đi vay, vốn tiếp nhận và các nguồn vốn khác. ghiệp vụ sử dụng vốn 6 N ghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng thương mại bao gồm các nghiệp vụ liên quan tới việc sử dụng các khoản vốn huy động được từ nghiệp vụ tài sản nợ, bao gồm: • Thiết lập dự trữ: Để đáp ứng nhu cầu thanh toán, các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng để đáp ứng nhu cầu sẵn sàng chi trả cho khách hàng. Phần vốn này được gọi là dự trữ. Dự trữ là một bộ phận cần thiết và tất yếu đối với mọi ngân hàng, để đảm bảo an toàn chung cho toàn hệ thống.
• Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải bảo đảm an toàn để giữ được lòng tin của khách hàng. Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán, đó là đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng. Muốn vậy, các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này được gọi là dự trữ.
• Cấp tín dụng: Đây là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các ngân hàng thương mại có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân, bao gồm: - Cho vay trực tiếp: Là một nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. Trong đó ngân hàng thương mại sẽ cho người đi vay, vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi.
Căn cứ các tiêu thức sau để phân loại nghiệp vụ cho vay: • Căn cứ theo tiêu thức thời hạn tín dụng, cho vay chia làm 3 loại: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn • Căn cứ theo tiêu thức đảm bảo tiền vay, cho vay chia làm 2 loại: cho vay có đảm bảo và cho vay không có đảm bảo. • Căn cứ vào tiêu thức phương pháp cấp tiền vay, cho vay chia làm 2 loại: Cho vay chỉ có 1 kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay một lần đến khi đáo hạn và 7 cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp. - Chiết khấu: Đây là nghiệp vụ tín dụng gián tiếp, theo đó ngân hàng thương mại sẽ mua lại các chứng từ có giá trước khi đến hạn thanh toán với một số tiền nhỏ hơn giá trị thanh toán của chứng từ khi đến hạn, chênh lệch giữa hai giá trị này chính là lợi tức chiết khấu mà ngân hàng thương mại được hưởng. Các đối tượng trong nghiệp vụ này bao gồm: hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác.
- Tín dụng thuê mua: Là loại hình tín dụng trung, dài hạn. Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. N gười đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ. Khi kết thúc hợp đồng thuê, người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê.
N gân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động công ty cho thuê tài chính thực hiện theo N ghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính. - Thấu chi: Là hình thức cấp tín dụng cho phép khách hàng sử dụng vượt quá số dư trong phạm vi hạn mức tín dụng đã thỏa thuận trong thời gian nhất định trên tài khoản vãng lai hay tài khoản sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng. Kỹ thuật này giúp khách hàng sử dụng vốn linh hoạt và tiện lợi, thường áp dụng đối với khách hàng có khả năng tài chính lành mạnh và có uy tín.
- Tín dụng chấp nhận: N gân hàng thương mại tiến hành ký chấp nhận vào thương phiếu, hối phiếu, thực hiện cam kết thanh toán. N ếu đến hạn, người trả tiền không thanh toán thì ngân hàng thương mại chấp nhận sẽ đứng ra thanh toán thương phiếu, hối phiếu. - Bảo lãnh ngân hàng: Là cam kết bằng văn bản của ngân hàng thương mại (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài 8 chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay.
- Các hình thức khác: như đồng tài trợ, cho vay hợp vốn, cho vay liên kết, bao thanh toán,. • Đầu tư: Đây là khoản mục có vị trí quan trọng thứ hai sau cho vay, mang lại khoản thu nhập lớn và chia sẻ rủi ro với các hoạt động khác của ngân hàng thương mại. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ sử dụng vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như: - Góp vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty, xí nghiệp, việc hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng. - Mua trái phiếu của Chính phủ, Chính quyền địa phương, trái phiếu công ty,.
- Sử dụng vốn cho mục đích khác: N gân hàng sử dụng nguồn vốn để mua sắm thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở ngân hàng, hệ thống kho bãi và các chi phí khác … 1. ghiệp vụ trung gian Bao gồm các hoạt động sau: - Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho khách hàng. - N hận bảo quản các tài sản quý giá, các giấy tờ quan trọng. - Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng.
- Kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý, ngoại tệ. - Tư vấn tài chính. Khái quát hoạt động cho vay KHC của HTM N gày nay nhu cầu vay vốn của các cá nhân ngày càng nhiều.