Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nguồn gốc cây lúa Cây lúa là một trong những cây cốc có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Căn cứ vào các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam. cây lúa đã có mặt từ 3000-2000 năm trước công nguyên.
Tuy nhiên, vẫn chưa có những tài liệu để xác định một cách chính xác thời gian cây lúa được đưa vào trồng trọt. Cây lúa có vai trò quan trọng trong đời sống và lịch sử phát triển của hàng triệu người trên trái đất. Từ trung tâm khởi nguyên là Ấn Độ và Trung Quốc, cây lúa được phát triển về cả hai hướng Đông và Tây. Từ đó cho đến nay, cây lúa đã được đưa vào trồng ở khắp nơi trên trái đất, bao gồm các nước nhiệt đới, á nhiệt đới và một số nước ôn đới.
Ở Bắc bán cầu, cây lúa được trồng ở Đông bắc Trung Quốc 530Bắc cho tới Nam bán cầu ở Châu Phi, Australia 350Nam. Nhưng nó vẫn được trồng nhiều nhất ở khu vực nhiệt đới. Về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa, có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng cây lúa được hình thành đầu tiên ở vùng Tây bắc Ấn Độ, Myanma, Thái Lan, Việt Nam, Nam Trung Quốc, Lào.
Ý kiến khác cho rằng, cây lúa bắt nguồn gốc từ Ấn Độ. Tuy nhiên, những vùng được cho là xuất xứ nói trên đều có đặc điểm giống nhau về điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm phù hợp với cây lúa. Nơi đây đã và đang tồn tại các loại hình lúa dại có ít nhiều quan hệ với lúa trồng. Mặt khác, các tài liệu lịch sử, đời sống văn hóa, xã hội, tập quán.
của vùng này gắn bó chặt chẽ từ lâu đời. Và nơi đây, lúa gạo được coi là nguồn lương thực chính có liên quan đến đời sống của hàng trăm triệu người. Về nguồn gốc thực vật, cây lúa thuộc họ hòa thảo (gramineae), chi Oryza. Trong thực tế sản xuất hiện nay có thể chia lúa trồng thành 4 loại hình với tiêu chẩn phân loại khác nhau: PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 (1) Theo điều kiện sinh thái và vĩ độ địa lý có lúa tiên và lúa cánh; (2) Theo mùa vụ gieo cấy trong năm và thời gian sinh trưởng có lúa chiêm và lúa mùa; (3) Theo điều kiện tưới và gieo cấy có lúa nước và lúa cạn; (4) Theo chất lượng và hình dạng hạt lúa có lúa tẻ và lúa nếp, lúa hạt tròn và lúa hạt dài.
Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Ngày nay trong cơ chế thị trường, Đảng và Nhà nước có chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp bằng việc thâm canh tăng vụ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong đó vấn đề tiến bộ về giống được đặc biệt quan tâm. Trong những năm gần đây thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, Nhà nước luôn khuyến khích và mong muốn sản phẩm của nông dân phải trở thành hàng hoá và người nông dân có thu nhập ổn định. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhất là cơ cấu giống lúa cần khuyến khích sự phát triển theo hướng nằm trong khuôn khổ của sự kết hợp giữa 4 nhà: Nhà nước, nhà Doanh nghiệp, nhà Khoa học và nhà Nông.
Sản phẩm làm ra phục vụ cho thị trường hay nói một cách khác sản xuất ra sản phẩm theo tiếng gọi của thị trường, đảm bảo thu nhập cho người nông dân. Từ thủa đầu dựng nước cây lúa đã được gắn liền với nền văn minh lúa nước trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Cùng với thời gian diện tích và năng suất lúa không ngừng được tăng lên rõ rệt, tổng diện tích lúa của nước ta từ 4,74 triệu ha năm 1970 tăng lên 7,66 triệu ha năm 2000 và giảm dần xuống còn 7,34 triệu ha vào năm 2005. Tuy nhiên trong những năm gần đây do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đã làm diện tích trồng lúa bắt đầu có dấu hiệu giảm về diện tích, mặc dù sản lượng vẫn tăng do việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuâth vào sản xuất PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 làm tăng năng suất và sản lượng của lúa.
Bên cạnh việc mở rộng diện tích trồng lúa chúng ta cũng đã chú trọng đến chất lượng của lúa gạo, Giống lúa là tiền đề của năng suất và chất lượng như Tám Ấp Bẹ, Tám xoan, Dự, nếp cái Hoa vàng, nếp Hoà Bình, nếp Hải Phòng, Nàng Nhen, Nàng thơm Chợ Đào đã được phục tráng và mở rộng trong sản xuất. Bảng 2-1: Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam qua một số năm Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 1970 4,740 19,0 9,00 1993 6,559 34,8 22,59 2000 7,655 42,5 32,55 2005 7,340 49,5 36,34 2006 7,320 48,9 35,80 2007 7,200 49,1 35,90 2008 7,400 52,3 38,73 2009 7,437 52,3 38,95 2010 7,514 53,2 39,98 2011 7,600 55,0 42,40 2012 7,750 56,0 43,40 2013 7,890 55,8 44,00 2014 7,800 57,7 45,00 (Nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2014 | 18 April 2014) PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Cây lúa là cây trồng chính góp phần đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu qua lại nhiều nước trên thế giới. Qua bảng 2-1 và hình 2-1 ta thấy Về diện tích: Diện tích lúa tăng nhanh nhất trong giai đoạn 1970 – 1993, tăng 1,72 triệu ha. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng lúa có xu hướng giảm dần nguyên nhân chủ yếu là do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đã và đang làm cho diện tích đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng giảm đáng kể.
Nếu so sánh năm 2000 với 2005 thì diện tích trồng lúa của ta giảm tới 315. Về năng suất và sản lượng: diện tích giảm trong khi năng suất lúa và sản lượng lúa tăng nhanh. Liên quan tới quá trình năng suất lúa tăng nhanh: Từ 2000 đến 2011: Năng suất lúa đạt từ 4 lên 5 tấn/ha, tăng thêm 1 tấn nữa. Nếu tính từ năm 1970 đến năm 2010 (bảng 2.4) năng suất và sản lượng lúa ở nước ta liên tục tăng.
Năm 2011 diện tích gieo trồng lúa cả năm là 7,6 triệu ha, bình quân trong giai đoạn 1993 - 2011 tăng 0,3%/năm, cao nhất là giai đoạn 1993 – 2000 tăng 2,3%/năm. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng thâm canh tăng năng suất trên cùng diện tích canh tác; trong giai đoạn 2000 – 2011 năng suất lúa đã tăng bình quân hàng năm 2,13%; năm 2011 năng suất lúa đạt 5,7 tấn/ha, tăng 1,6 tấn/ha so với năm 1993. Sản lượng lúa đã tăng 1,8%/năm trong 20 năm và năm 2011 đạt 1,032 triệu tấn, cao gần 1,5 lần so với năm 1993. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nền sản xuất nông nghiệp của chuyển từ kinh tế tập thể lấy Hợp tác xã nông nghiệp quản lý và điều hành kế hoạch sản xuất, sang cơ chế lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ vì vậy đã khuyến khích người dân đầu tư về công sức tiền của cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thâm canh tăng vụ vì vậy sản lượng lúa của Việt Nam không ngừng được tăng cao.
Đến nay chúng ta đã giải quyết cơ bản vấn đề thiếu lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và còn xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới (sau Thái Lan). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Từ năm 1989 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo với số lượng 1,4 triệu tấn/năm. Năm 1999 là năm xuất khẩu nhiều nhất với 4,6 triệu tấn. Ngày nay gạo đã trở thành mặt hàng xuất khẩu, góp phần tăng ngoại tệ cho đất nước.
Trước năm 1945 đồng bằng sông Hồng sản lượng lúa 2 vụ/năm là 25 – 30 tạ/ha, đồng bằng sông Cửu Long gieo trồng vụ lúa nổi cho năng suất 11 – 15 tạ/ha và lúa cấy đạt 15 - 20 tạ/ha. Năm 1999, vụ lúa đông xuân và vụ lúa hè thu đã cho năng suất 80 - 100 tạ/ha. Như vậy, có thể nói, trong thời gian qua sản xuất lúa ở Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành công. Để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực và giữ vị trí xuất khẩu lúa gạo đứng hàng đầu thế giới, một vấn đề đặt ra đó là cần thâm canh tăng vụ, tập trung nguồn lực và trí lực cho việc nghiên cứu lai tạo ra các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với điều kiện ngoại cảnh, ít sâu, bệnh chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi.
Nhằm nâng cao cả về mặt giá trị xuất khẩu, chúng ta cần tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển lúa chất lượng cao phục vụ cho công tác xuất khẩu lúa gạo trong những năm tiếp sau. Trong thời gian qua, nước ta đã đạt được những thành tích tương đối nổi bật về an ninh lương thực. Việt Nam là nước có tỷ lệ diện tích đất trên đầu người ít nhất Châu Á(trừ Băng- la- đét) nhưng lại là nước xuất khẩu gạo lớn. “Các cột mốc trong 22 năm xuất khẩu gạo của Việt Nam: Nếu năm 1989, Việt Nam mới xuất khẩu được 1,37 triệu tấn gạo, thì 6 năm sau đó đến năm 1995 đã đạt số lượng 2,05 triệu tấn.
Ngay sau đó 1 năm (1996) đã tăng vọt lên 3,06 triệu tấn, đến năm 1999, xuất khẩu gạo đạt cột mốc mới với 4,56 triệu tấn. Nhưng kể từ sau năm 2000, số lượng xuất khẩu lại bị tụt xuống ở mốc 3,35 triệu tấn và đến năm 2005 mới thiết lập được mốc mới là 5,2 triệu tấn. Tới năm 2009 đạt cột mốc 6 triệu tấn, năm 2010 đạt 6,8 triệu tấn và năm 2011 đạt 7,2 triệu tấn”. Việt Nam đóng góp trên 20% lượng gạo thương mại trên thế giới nên việc tăng giảm lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đóng vai trò quan trọng cho an ninh lương thực thế giới.
Năm 2011, thế giới đang chứng kiến một cuộc khủng PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 9 hoảng lương thực có nguy cơ bùng phát trở lại sau năm 2007, khi mà giá cả lương thực toàn cầu liên tục tăng cao từ tháng 8/2010 cho đến nay. Khủng hoảng lương thực mà hệ lụy là số người nghèo đói, thiếu ăn gia tăng, bùng phát những bất ổn về xã hội và nghiêm trọng hơn nữa là khủng hoảng chính trị, bạo loạn, lật đổ xảy ra.