Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa cùng sự gia tăng dân số nhanh chóng tại Việt Nam đã tạo ra áp lực lớn đối với công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm phát sinh từ rác thải sinh hoạt và nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp (nước rỉ rác - NRR). Nước rỉ rác là loại nước thải có thành phần ô nhiễm phức tạp, tải lượng hữu cơ, vô cơ và kim loại nặng rất cao. Khi lượng nước này xâm nhập vào các tầng nước ngầm và nguồn nước mặt lân cận mà chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật, chúng sẽ làm suy giảm nghiêm trọng nồng độ oxy hòa tan, đe dọa trực tiếp đến hệ sinh vật thủy sinh và sức khỏe cộng đồng.
Thực tế vận hành tại các bãi chôn lấp chất thải rắn cho thấy, mặc dù các hệ thống xử lý nước rỉ rác đã được đầu tư xây dựng nhưng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế kỹ thuật: chất lượng nước sau xử lý thường xuyên không đạt tiêu chuẩn xả thải (đặc biệt là các chỉ tiêu Nitơ, Phốt pho và kim loại nặng), tiêu tốn nhiều hóa chất, chi phí vận hành cao và công suất không đạt mức thiết kế. Nguyên nhân xuất phát từ sự biến động lớn về lưu lượng và nồng độ chất ô nhiễm theo tuổi của bãi chôn lấp cũng như theo các mùa trong năm, trong khi công nghệ xử lý chưa thích ứng kịp thời. Tại thành phố Hà Nội, bãi chôn lấp rác thải Nam Sơn (huyện Sóc Sơn) là nơi tiếp nhận phần lớn lượng rác thải sinh hoạt của toàn đô thị. Việc đánh giá hiện trạng chất lượng nước rỉ rác và hiệu quả thực tế của công nghệ xử lý tại đây là cơ sở khoa học cần thiết để đưa ra giải pháp cải tạo hệ thống xử lý, xử lý dứt điểm lượng nước rác tồn đọng.
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu chất lượng nước đầu vào và đầu ra của nước rỉ rác tại bãi chôn lấp rác thải Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội; từ đó đánh giá hiệu quả của phương pháp xử lý đang vận hành và đề xuất phương pháp xử lý hiệu quả hơn.
Yêu cầu nghiên cứu:
- Tìm hiểu quy trình công nghệ được áp dụng để xử lý nước rác tại khu xử lý của bãi chôn lấp rác.
- Đánh giá hiệu quả của phương pháp xử lý nước rỉ rác.
- Đề xuất phương pháp xử lý hiệu quả hơn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nước rỉ rác phát sinh tại bãi chôn lấp rác thải Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Trạm xử lý nước rỉ rác công suất 600 m³/ngày đêm thuộc khu xử lý của bãi chôn lấp rác thải Nam Sơn, nằm trên địa bàn 3 xã Bắc Sơn, Nam Sơn và Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát thực tế, đo đạc lưu lượng và thu thập mẫu phân tích trong năm 2013, bao gồm hai đợt quan trắc đại diện cho mùa khô (tháng 3/2013) và đầu mùa mưa (tháng 7/2013).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết và tiêu chuẩn áp dụng:
Nước rỉ rác hình thành chủ yếu do nước mưa thấm qua các lớp rác và lượng nước bị ép ra từ các lỗ rỗng của khối chất thải dưới tác động của quá trình đầm nén cơ học, kết hợp với một lượng nhỏ nước sinh ra từ sự phân hủy sinh học chất hữu cơ. Quá trình phân hủy sinh học kỵ khí trong lòng bãi rác diễn ra qua ba giai đoạn: pha axit (tỷ số BOD₅/COD ≥ 0,4), pha chuyển tiếp (0,4 > BOD₅/COD > 0,2) và pha metan (BOD₅/COD ≤ 0,2). Khi bãi chôn lấp có tuổi thọ cao (bãi rác già), pha metan chiếm ưu thế, tỷ số BOD₅/COD giảm mạnh (< 0,3), phản ánh hàm lượng chất hữu cơ khó phân hủy sinh học gia tăng; đồng thời hàm lượng ion amoni (NH₄⁺) tích tụ ở mức rất cao (trên 2.000 mg/l) và có tính chất bền vững.
Tổng quan công nghệ xử lý nước rỉ rác bao gồm:
- Phương pháp cơ học: Lưới chắn, song chắn rác, bể lắng trọng lực và lọc nhằm loại bỏ chất rắn lơ lửng, cặn thô.
- Phương pháp hóa lý: Bể keo tụ tạo bông, tuyển nổi khí hòa tan, trích ly, trao đổi ion và chưng bay hơi để tách các hạt keo kích thước 0,1 - 10 µm và các chất ô nhiễm hòa tan.
- Phương pháp hóa học và oxy hóa bậc cao (AOPs): Khử trùng bằng Clo, Javen, Ozone hoặc oxy hóa Fenton (sử dụng Fe²⁺ kết hợp H₂O₂ ở dải pH tối ưu 3 - 6) nhằm oxy hóa các chất hữu cơ bền vững.
- Phương pháp sinh học: Sử dụng vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ qua quá trình kỵ khí (bể UASB) hoặc hiếu khí (bể Aerotank, hồ sinh học) dựa trên các pha tăng trưởng sinh khối (pha logarit, pha suy giảm, pha hô hấp nội sinh).
- Văn bản quy chuẩn đối chiếu: QCVN 25:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải bãi chôn lấp chất thải rắn (áp dụng giá trị giới hạn cột B1).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp khảo sát và thu thập số liệu: Khảo sát thực địa vị trí địa lý, hiện trạng hạ tầng kỹ thuật BCL Nam Sơn; thu thập số liệu vận hành, khối lượng chất thải tiếp nhận và diễn biến lưu lượng nước rỉ rác xử lý năm 2013.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tổng hợp tài liệu khoa học, quy chuẩn môi trường; phân tích đặc tính hóa lý nước rỉ rác và so sánh kinh nghiệm xử lý nước rác trong nước (BCL Gò Cát, BCL Đông Thạnh) và nước ngoài (Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc).
- Phương pháp tính toán: Xử lý thống kê số liệu quan trắc, tính toán hiệu suất khử các thông số ô nhiễm theo công thức phần trăm suy giảm giữa nồng độ đầu vào và đầu ra.
- Phương pháp lấy mẫu và phân tích: Mẫu được thu thập 2 đợt vào khung giờ 08h00 - 08h30 sáng. Đợt 1 (mùa khô) thực hiện vào các ngày 7/3, 14/3, 21/3/2013; đợt 2 (đầu mùa mưa) thực hiện vào các ngày 8/7, 15/7, 22/7/2013. Tổng số mẫu là 12 mẫu, gồm 6 mẫu nước thải trước xử lý (lấy tại hố ga thu gom nước rác) và 6 mẫu nước thải sau xử lý (lấy tại ống xả đầu ra). Dữ liệu phân tích do Xí nghiệp Môi trường Đô thị Thanh Trì (Hà Nội) thực hiện.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa tại Hà Nội làm gia tăng khối lượng rác thải sinh hoạt chôn lấp, kéo theo nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt và nước ngầm do nước rỉ rác. Phân tích rõ các nhược điểm phổ biến của các trạm xử lý nước rác hiện hành như chất lượng nước không đạt chuẩn xả thải, công suất thiếu ổn định và chi phí cao. Xác định mục tiêu trọng tâm là đánh giá chất lượng nước đầu vào - đầu ra của trạm xử lý tại BCL Nam Sơn và đề xuất biện pháp cải tạo; thiết lập 3 yêu cầu nghiên cứu cùng giới hạn đối tượng, phạm vi khảo sát trạm xử lý nước rỉ rác công suất 600 m³/ngày đêm.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa lý thuyết về nguồn gốc, cơ chế phát sinh và đặc trưng thành phần nước rỉ rác theo tuổi thọ bãi chôn lấp, dựa trên số liệu của Chian và DeWalle (1996 - 1997) chứng minh sự suy giảm nồng độ ô nhiễm hữu cơ và tỷ lệ BOD/COD từ 1 năm đến 16 năm. Phân loại chi tiết 3 pha phân hủy yếm khí (axit, chuyển tiếp, metan) và tác động tiêu cực của nước rỉ rác tới môi trường đất, nước ngầm, nước mặt. Tổng quan nguyên lý kỹ thuật của các nhóm phương pháp xử lý: cơ học (lọc, lắng), hóa lý (keo tụ tạo bông, tuyển nổi, trích ly), hóa học (Ozone, Fenton, điện hóa học), sinh học (hồ sinh học, bùn hoạt tính, UASB, Aerotank) và khử trùng. Đồng thời, chương này tổng kết kinh nghiệm thực tiễn xử lý nước rác tại Việt Nam (hệ thống 4 bậc tại BCL Gò Cát, thử nghiệm thực vật cỏ vetiver tại BCL Đông Thạnh) và các quốc gia tiên tiến như Mỹ (kết tủa hydroxide kết hợp tháp sinh học kỵ khí/hiếu khí tại BCL 1; keo tụ vôi, SBR, than hoạt tính tại BCL 2; tiêu chuẩn tưới tiêu bang Oregon), Nhật Bản (công nghệ tách canxi, màng RO của hãng TSK) và Hàn Quốc (công nghệ sinh học dòng MLE kết hợp bổ sung thiết bị khử Nitơ sau các năm 1999, 2001).
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Thiết lập khung nội dung nghiên cứu bao gồm: khảo sát hiện trạng BCL Nam Sơn, xác định nguồn gốc phát sinh và lưu lượng nước rác, tìm hiểu quy trình công nghệ xử lý nước rác trạm 600 m³/ngày đêm, phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước đầu vào - đầu ra và đề xuất giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả. Trình bày chi tiết phương pháp luận kiểm soát ô nhiễm và các phương pháp cụ thể: khảo sát thực tế, tổng hợp phân tích tài liệu, tính toán xử lý dữ liệu. Quy định mạng lưới quan trắc gồm 12 mẫu tại hố thu gom nước thô và ống xả nước sau xử lý, phân bổ đều trong 2 đợt mùa khô (tháng 3/2013) và đầu mùa mưa (tháng 7/2013), đo đạc vào khung giờ cố định từ 08h00 đến 08h30.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
- Hiện trạng BCL Nam Sơn: Bãi rác vận hành từ năm 1999 với diện tích 83,4 ha (giai đoạn 1) và mở rộng 36 ha (giai đoạn 2), trang bị trạm cân 60 tấn, lực lượng 180 công nhân. Công suất thiết kế là 3.500 tấn rác/ngày, nhưng khối lượng tiếp nhận thực tế lên tới 4.200 tấn rác/ngày với khoảng 450 lượt xe chuyên chở mỗi ngày. Bãi rác có 2 trạm xử lý: Trạm 1 công suất 600 m³/ngày đêm do Công ty Kỹ thuật SEEN thiết kế và vận hành từ tháng 10/2005; Trạm 2 công suất 1.100 m³/ngày đêm vận hành từ tháng 10/2009.
- Diễn biến lưu lượng nước rỉ rác năm 2013: Lưu lượng chịu ảnh hưởng mạnh bởi lượng mưa. Mùa khô (tháng 3 có lượng mưa 20 mm), nước rác phát sinh chỉ khoảng 13 m³/ngày (300 m³/tháng). Ngược lại, mùa mưa (tháng 7 và 8 có lượng mưa 350 - 500 mm), lưu lượng ngày mưa lớn nhất lên tới 180 m³/ngày, tổng lượng phát sinh cao nhất đạt 730 m³/tháng.
- Dây chuyền công nghệ trạm 600 m³/ngày đêm: Nước rác từ ô chôn lấp qua mương dẫn rải đá dăm, cát thạch anh chảy về hố thu -> Bể điều hòa sục khí đáy nhằm tránh lắng cặn và khử mùi hôi kỵ khí -> Cụm 4 bể hợp khối oxy hóa hiếu khí hoạt động liên tục (giàn sục khí cách đáy bể 0,5 m, bổ sung bùn hoạt tính định kỳ) -> Bể lắng phân tách bùn sinh học -> Bể keo tụ tạo bông sử dụng phèn nhôm Al₂(SO₄)₃·18H₂O nồng độ 10% kết hợp chất trợ lắng PAM nồng độ 0,2% -> Bể trung hòa bổ sung NaOH 99% pha dung dịch 10% với tỷ lệ 0,15 m³/30 m³ nước thải -> Bể lắng bùn hóa lý -> Mương xả ra môi trường. Bùn lắng được bơm hồi lưu trở lại ô chôn lấp.
- Hiệu quả xử lý thực tế: Sau 14 năm vận hành, BCL Nam Sơn đang ở giai đoạn chuyển tiếp sang pha metan chiếm ưu thế (tỷ số BOD₅/COD < 0,3). Nước rỉ rác thô có COD dao động từ 985,5 mg/l (cuối mùa khô) đến 5.632 mg/l (đầu mùa mưa), 100% mẫu đầu vào vượt QCVN 25:2009/BTNMT cột B1. Sau quy trình xử lý, COD đạt hiệu suất khử 77,64% - 94,29% (5/6 mẫu đạt quy chuẩn, 1 mẫu mùa mưa không đạt với COD = 457,6 mg/l do đầu vào quá cao); BOD₅ đạt hiệu suất 91,15% - 94,66% (100% mẫu đạt chuẩn, nồng độ từ 17,8 đến 68 mg/l); NH₄⁺ đạt hiệu suất 69,69% - 85,00% (5/6 mẫu đạt chuẩn, 1 mẫu mùa mưa vượt 1,1 - 1,3 lần). Riêng Nitơ tổng (TN) xử lý rất kém: mùa khô chỉ khử được 6,16% - 6,67%, mùa mưa đạt 42,88% - 53,38%; 100% mẫu đầu ra đều vượt quy chuẩn từ 1,5 đến 2,5 lần. Nguyên nhân là do quá trình oxy hóa hiếu khí chỉ chuyển hóa NH₄⁺ sang NO₂⁻ và NO₃⁻ mà không có công đoạn khử nitrat (denitrification), cùng với việc các bể oxy hóa lâu ngày không được nạo vét bùn gây hiện tượng tích tụ ô nhiễm và phú dưỡng.
- Giải pháp đề xuất: Bổ sung bể thiếu khí tùy tiện (Anoxic) sau bể Aerotank và trước bể lắng để thực hiện phản nitrat hóa (chuyển NO₃⁻ thành khí N₂ thoát ra khí quyển) nhờ các vi khuẩn Bacillus, Pseudomonas, Micrococcus với nguồn cấp carbon bổ sung như methanol CH₃OH. Thực hiện nạo vét bùn định kỳ, phủ bạt kín các ô rác để giảm nước mưa xâm nhập, tách riêng hệ thống thoát nước mưa và đẩy mạnh phân loại rác tại nguồn.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các phát hiện định lượng chính: Lưu lượng nước rác biến thiên lớn theo mùa (13 - 180 m³/ngày); thành phần rác phân hủy sâu ở pha metan (BOD₅/COD < 0,3); trạm xử lý 600 m³/ngày đêm xử lý tốt BOD₅, COD và NH₄⁺ nhưng thất bại trong việc loại bỏ Nitơ tổng (vượt chuẩn xả thải 1,5 - 2,5 lần). Kiến nghị các cơ quan chức năng và đơn vị vận hành khẩn trương cải tiến công nghệ bằng việc lắp đặt bể thiếu khí Anoxic, nghiên cứu áp dụng phản ứng Fenton, đồng thời thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý chôn lấp kỹ thuật và phân loại chất thải từ nguồn.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng qua phân tích mẫu thực nghiệm:
Hiệu suất loại bỏ các thông số ô nhiễm chính của hệ thống xử lý nước rỉ rác công suất 600 m³/ngày đêm tại BCL Nam Sơn được tổng hợp qua 6 mẫu quan trắc (gồm 3 mẫu mùa khô KR.01, KR.02, KR.03 và 3 mẫu đầu mùa mưa MR01, MR02, MR03) đối chiếu theo QCVN 25:2009/BTNMT cột B1:
| Chỉ tiêu phân tích |
Mẫu KR.01 (Mùa khô) |
Mẫu KR.02 (Mùa khô) |
Mẫu KR.03 (Mùa khô) |
Mẫu MR01 (Mùa mưa) |
Mẫu MR02 (Mùa mưa) |
Mẫu MR03 (Mùa mưa) |
Đánh giá mức độ đạt chuẩn QCVN 25:2009/BTNMT (Cột B1) |
| COD (%) |
78,83% |
79,85% |
77,64% |
94,29% |
91,87% |
93,14% |
5/6 mẫu đạt chuẩn; 1 mẫu mùa mưa vượt chuẩn (COD = 457,6 mg/l) |
| BOD₅ (%) |
93,35% |
91,15% |
92,32% |
94,66% |
92,76% |
94,10% |
100% mẫu đạt quy chuẩn (nồng độ đầu ra: 17,8 - 68 mg/l) |
| NH₄⁺ (%) |
75,33% |
69,69% |
73,89% |
79,93% |
83,69% |
85,00% |
5/6 mẫu đạt quy chuẩn; 1 mẫu mùa mưa vượt chuẩn 1,1 - 1,3 lần |
| Nitơ tổng (TN) (%) |
6,16% |
6,46% |
6,67% |
42,88% |
53,38% |
44,53% |
100% mẫu không đạt quy chuẩn (vượt quy chuẩn từ 1,5 đến 2,5 lần) |
Giải pháp tác giả đề xuất:
- Cải tiến quy trình công nghệ: Bổ sung bể thiếu khí tùy tiện (Anoxic) sau bể Aerotank và trước bể lắng trong dây chuyền công nghệ. Quá trình khử nitrat trong điều kiện thiếu oxy sẽ sử dụng vi khuẩn tự dưỡng và dị dưỡng (Bacillus, Pseudomonas, Micrococcus) cùng chất hữu cơ bổ sung (methanol CH₃OH) để chuyển hóa nitrat và nitrit thành khí N₂ tự do theo phương trình:
NO₃⁻ + 1,08 CH₃OH + H⁺ → 0,065 C₅H₇O₂N + 0,47 N₂↑ + 0,76 CO₂ + 2,44 H₂O.
- Vận hành và bảo dưỡng: Định kỳ nạo vét cặn bùn tích tụ tại đáy 4 bể oxy hóa để triệt tiêu hiện tượng phú dưỡng nội tại; bổ sung chủng loại vi sinh vật hiếu khí định kỳ cho cụm bể sục khí nhằm duy trì mật độ bùn hoạt tính.
- Giải pháp quản lý bãi rác: Quy hoạch phân tách hoàn toàn 2 hệ thống thoát nước riêng biệt (hệ thống thoát nước mưa tự nhiên và hệ thống thu gom nước rỉ rác); sau mỗi lớp chôn lấp phải phủ đất và bạt chống thấm che kín bề mặt ô rác nhằm ngăn tối đa nước mưa ngấm vào khối chất thải; tăng cường phân loại rác từ nguồn để tái chế rác hữu cơ làm phân bón và đốt rác trơ thu hồi dầu DO.
Đóng góp của đề tài:
- Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về lưu lượng và nồng độ chất ô nhiễm của nước rỉ rác tại BCL Nam Sơn sau 14 năm hoạt động, xác nhận bãi rác đã chuyển hoàn toàn sang pha metan (tỷ số BOD₅/COD < 0,3).
- Đánh giá khách quan hiệu quả xử lý thực tế của công nghệ bùn hoạt tính hiếu khí hợp khối kết hợp keo tụ phèn nhôm - PAM; làm rõ nguyên nhân bản chất về mặt hóa sinh học khiến nồng độ Nitơ tổng không thể xử lý triệt để trong môi trường hiếu khí đơn thuần.
- Đề xuất giải pháp bổ sung bể Anoxic mang tính ứng dụng thực tiễn cao, phù hợp với mặt bằng kỹ thuật hiện có của trạm xử lý.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát thực nghiệm mới chỉ tập trung đánh giá chuyên sâu dây chuyền trạm xử lý số 1 (công suất 600 m³/ngày đêm), chưa phân tích so sánh đồng thời với trạm xử lý số 2 (công suất 1.100 m³/ngày đêm).
- Số lượng mẫu quan trắc còn hạn chế (tổng số 12 mẫu phân bổ trong 2 đợt vào tháng 3 và tháng 7 năm 2013), chưa phản ánh đầy đủ chuỗi biến động chất lượng nước liên tục qua toàn bộ 12 tháng trong năm.
- Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích 5 thông số cơ bản (pH, COD, BOD₅, NH₄⁺, TN), chưa tiến hành phân tích sâu các chỉ tiêu về kim loại nặng (Fe, Mn, Pb, Cd) và Phốt pho tổng vốn có hàm lượng đáng kể trong nước rò rỉ bãi chôn lấp.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai nghiên cứu thực nghiệm trên mô hình pilot đối với công đoạn thiếu khí tùy tiện (bể Anoxic) kết hợp bể Aerotank nhằm xác định các thông số vận hành tối ưu (tỷ lệ tuần hoàn bùn, liều lượng cơ chất carbon bổ sung) trong việc khử Nitơ tổng.
- Nghiên cứu áp dụng quy trình oxy hóa nâng cao Fenton (Fe²⁺/H₂O₂) sau giai đoạn xử lý sinh học nhằm phân hủy triệt để các hợp chất hữu cơ mạch vòng khó phân hủy sinh học, đưa chất lượng nước thải đầu ra đạt 100% tiêu chuẩn xả thải môi trường tiếp nhận.
Giá trị tham khảo
Đối tượng tham khảo:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường cần tài liệu thực tế về công nghệ kiểm soát chất thải rắn và nước rỉ rác.
- Kỹ sư thiết kế, cán bộ kỹ thuật vận hành tại các nhà máy xử lý chất thải rắn đô thị và trạm xử lý nước rỉ rác bãi chôn lấp.
- Cán bộ quản lý môi trường tại các cơ quan quản lý nhà nước đô thị phụ trách giám sát xả thải bãi chôn lấp.
Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Bảng số liệu thực nghiệm về mối liên hệ giữa lượng mưa và sự biến thiên lưu lượng nước rác phát sinh (từ 13 m³/ngày đến 180 m³/ngày).
- Sơ đồ cấu tạo và thông số công nghệ của hệ thống bể hợp khối oxy hóa hiếu khí nhiều ngăn kết hợp keo tụ tạo bông bằng phèn nhôm Al₂(SO₄)₃·18H₂O và PAM.
- Cơ sở lý thuyết và các phương trình phản ứng phản nitrat hóa ứng dụng trong thiết kế bể Anoxic để xử lý triệt để thành phần Nitơ tổng trong nước thải ô nhiễm cao.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao tỷ lệ BOD₅/COD của nước rỉ rác tại BCL Nam Sơn luôn ở mức nhỏ hơn 0,3 và điều này có ý nghĩa gì đối với công nghệ xử lý?
Tỷ số BOD₅/COD nhỏ hơn 0,3 xuất hiện do BCL Nam Sơn đã vận hành 14 năm (tính đến năm 2013), rác chôn lấp đã chuyển sang pha metan chiếm ưu thế. Ở giai đoạn này, các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học đã bị phân giải phần lớn trong những năm đầu, để lại tỷ lệ cao các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học. Do đó, nếu chỉ áp dụng phương pháp sinh học thông thường thì hiệu quả khử COD sẽ bị giới hạn, đòi hỏi phải kết hợp các công đoạn hóa lý hoặc oxy hóa nâng cao.
-
Liều lượng và chủng loại hóa chất được sử dụng trong công đoạn keo tụ và trung hòa tại trạm xử lý nước rác Nam Sơn là bao nhiêu?
Tại bể keo tụ, hệ thống sử dụng phèn nhôm Al₂(SO₄)₃·18H₂O với nồng độ dung dịch pha chế 10% kết hợp chất trợ lắng PAM (polyacrylamide) nồng độ 0,2%. Sau quá trình keo tụ, nước thải có độ pH giảm thấp nên được chuyển sang bể trung hòa để bổ sung hóa chất kiềm NaOH 99% (pha thành dung dịch nồng độ 10%) với định mức tiêu hao là 0,15 m³ dung dịch NaOH trên 30 m³ nước thải.
-
Nguyên nhân kỹ thuật nào khiến nồng độ Nitơ tổng (TN) trong nước thải sau xử lý không đạt quy chuẩn và có hiệu suất khử rất thấp (chỉ 6,16% - 6,67% vào mùa khô)?
Trong cụm 4 bể oxy hóa hiếu khí liên tục, các vi khuẩn tự dưỡng Nitrosomonas và Nitrobacter chỉ thực hiện quá trình oxy hóa NH₄⁺ và NH₃ thành dạng nitrit (NO₂⁻) và nitrat (NO₃⁻). Quy trình công nghệ hiện tại không có ngăn thiếu khí (Anoxic) để vi khuẩn phản nitrat hóa khử NO₃⁻ thành khí N₂, do đó tổng lượng nitơ trong dung dịch hầu như không suy giảm. Thêm vào đó, việc các bể oxy hóa vận hành lâu năm không được nạo vét bùn đáy định kỳ đã tạo ra hiện tượng phú dưỡng và tích tụ ô nhiễm nội tại.
-
Lưu lượng nước rỉ rác phát sinh tại BCL Nam Sơn năm 2013 biến động như thế nào giữa mùa mưa và mùa khô?
Lưu lượng nước rỉ rác biến thiên rất mạnh theo lượng mưa thực tế. Vào mùa khô (tháng 3), lượng mưa chỉ đạt 20 mm, lưu lượng nước rác phát sinh trung bình chỉ khoảng 13 m³/ngày (tương đương 300 m³/tháng). Ngược lại, vào các tháng cao điểm mùa mưa (tháng 7 và tháng 8), lượng mưa tăng vọt lên 350 - 500 mm/tháng, làm lượng nước rác phát sinh vào ngày mưa lớn nhất đạt mức 180 m³/ngày và tổng lưu lượng tháng cao nhất lên tới 730 m³/tháng.
-
Tác giả đề xuất giải pháp kỹ thuật cụ thể nào để xử lý triệt để chỉ tiêu Nitơ tổng trong hệ thống?
Tác giả đề xuất bố trí bổ sung một bể thiếu khí tùy tiện (bể Anoxic) lắp đặt ngay sau bể Aerotank và trước bể lắng. Tại bể này, trong điều kiện thiếu oxy hòa tan, các chủng vi sinh vật dị dưỡng (Bacillus, Pseudomonas, Micrococcus) sẽ sử dụng nguồn carbon bổ sung (methanol CH₃OH) để bẻ gãy liên kết oxy trong NO₃⁻ và NO₂⁻, chuyển hóa toàn bộ thành khí N₂ tự do bay lên khí quyển, giúp nồng độ Nitơ tổng trong nước thải đầu ra đạt quy chuẩn QCVN 25:2009/BTNMT.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tiến Vũ đã phản ánh khách quan hiện trạng ô nhiễm nước rỉ rác và hiệu quả xử lý thực tế của trạm xử lý 600 m³/ngày đêm tại bãi chôn lấp rác thải Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội trong năm 2013. Kết quả phân tích thực nghiệm chứng minh dây chuyền bùn hoạt tính hiếu khí kết hợp keo tụ tạo bông phèn nhôm - PAM đạt hiệu suất khử cao đối với COD, BOD₅ và NH₄⁺, song hoàn toàn không thể xử lý đạt chuẩn chỉ tiêu Nitơ tổng do thiếu công đoạn phản nitrat hóa kỵ khí. Đề xuất cải tạo hệ thống bằng việc bổ sung bể thiếu khí Anoxic kết hợp các biện pháp quản lý che phủ bạt kỹ thuật và phân loại chất thải từ nguồn là giải pháp có cơ sở khoa học vững chắc và giá trị thực tiễn cao cho công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường đô thị.