Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về Nông Lâm kết hợp 1. Khái niệm NLKH Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất, và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương [36]. Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương [6].
NLKH là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với hoa màu và/ hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để gia tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn [41]. NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp.) được trồng có suy tính trên cùng 1 đơn vị diện tích qui hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới hệ thống xen theo không gian hay theo thời gian. Trong các hệ thống NLKH có mối tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng [40]. Các tác giả Trần Ngọc Ngoạn và Cs (1999) [14] cho rằng: NLKH là thuật ngữ dùng để chỉ các hệ thống sử dụng đất, ở đó có các cây, con nông nghiệp (cây trồng, cây cỏ, vật nuôi.) được bố trí kết hợp với các cây lâm nghiệp theo không gian hoặc luân canh và có sự tương tác giữa cây, con nông nghiệp và lâm nghiệp về cả mặt sinh thái và kinh tế.
5 Vào năm 1997, Trung Tâm Quốc Tế nghiên cứu về NLKH (gọi tắt là ICRAF) đã xem xét lại khái niệm NLKH và phát triển nó rộng hơn như là một hệ thống sử dụng đất giới hạn trong các nông trại. Ngày nay nó được định nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến " kinh tế trang trại ". Một cách đơn giản, ICRAF đã xem "Nông Lâm kết hợp là trồng cây trên nông trại" và định nghĩa nó như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động và lấy yếu tố sinh thái làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái nông nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau [20]. Các định nghĩa trên chỉ ra những đặc trung cơ bản của NLKH đó là: - Thông thường có hai hoặc nhiều loài cây (có thể gồm cả động vật) nhưng ít nhất một trong chúng phải là những cây gỗ sống lâu năm.
- Một hệ thống NLKH luôn có hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra. - Chu kỳ của một hệ thống NLKH dù đơn giản nhất vẫn phức tạp hơn hệ thống độc canh cả về phương diện kinh tế cũng như sinh thái học (bao gồm cả cấu trúc và chức năng sinh thái học). Hơn thế ở đây còn có ba đặc tính mà xét về phương diện lý luận thì tất cả các hệ thống NLKH đều phải có đó là: Khả năng sản xuất; Tính bền vững; Tính khả khi [16], [19], [20], [23], [33], [36]. Các hệ thống NLKH có thể phân loại dựa trên các tiêu chuẩn về cơ sở cấu trúc, về cơ sở chức năng, về cơ sở kinh tế - xã hội, về cơ sở sinh thái… các cách phân loại này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối và chúng có quan hệ mật thiết với nhau.
Ở vùng đất dốc, người ta thường chia các hệ thống NLKH ra làm 2 nhóm chính là: hệ thống NLKH truyền thống và hệ thống NLKH cải tiến. 6 Hệ thống NLKH truyền thống đây là hệ thống canh tác được phát triển và tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ, được kiểm nghiệm qua thời gian. Chúng thường được phổ biến ở các cộng đồng người dân tộc sống ở gần hay tại rừng. Nói cách khác, hệ thống NLKH truyền thống là các kiểu canh tác NLKH được phát triển bởi chính người dân địa phương.
Điều này chứng minh rằng lý thuyết NLKH là mới mẻ nhưng thực ra là một kiểu canh tác đã được người dân sáng tạo ra từ lâu. Nhiều kỹ thuật NLKH đã được đúc kết, tồn tại và thử nghiệm bởi người nông dân qua hàng ngàn năm. Các yếu tố để xem xét một hệ thống là truyền thống/ bản địa bao gồm: - Hệ thống được tồn tại từ lâu - Hệ thống có sức sản xuất cao - Hệ thống được chấp nhận bởi người dân địa phương vì nó phù hợp với tập quán, tín ngưỡng và suy nghĩ của họ. Tại các nước châu Á cũng như Việt Nam, các cộng đồng dân cư, dân tộc ít người đã và đang sinh sống tại các vùng rừng núi, vùng sâu vùng xa, nơi giao thông liên lạc khó khăn, chính họ là những người tiên phong trong việc hình thành các kỹ thuật nông lâm kết hợp mang tính truyền thống [30].
Lợi ích của canh tác NLKH Hệ thống nông lâm kết hợp mang lại nhiều lợi ích tạo nhiều thu nhập tăng thêm từ các nguồn khác nhau, tăng sản xuất lương thực, cải thiện cung cấp thức ăn cho người và gia súc, tăng cung cấp củi, đất đai được cải thiện khả năng sản xuất, cung cấp nước cải thiện môi trường sống…. Các thành phần đa dạng được cung cấp, cho thu hoạch nhiều vào các thời điểm khác nhau trong năm, qua đó đảm bảo thu nhập và giảm nguy cơ mất mùa.Tính chất đa chức năng của NLKH cung cấp hàng loạt cơ hội, lợi ích cho các thành phần trên và dưới mặt đất, ví dụ tạo ra hàng rào sống, gỗ và môi trường sống của động vật hoang dã, cải thiện môi trường cho hoạt động của sinh vật đất. Với những lợi ích này nông lâm kết hợp có vai trò cải thiện cuộc sống của người nông dân, giúp xóa đói giảm nghèo, duy trì sự ổn định sinh thái [8]. Vai trò cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình NLKH được hình thành và phát triển nhằm vào mục đích sản xuất nhiều loại lương thực, thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình.
Điển hình là hệ 7 thống VAC được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn nước ta. Ưu điểm của các hệ thống NLKH là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực phẩm đa dạng trên một diện tích đất mà không yêu cầu đầu vào lớn [29]. Vai trò tạo việc làm: NLKH gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng có tác dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân. Vai trò tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít đòi hỏi về đầu vào, các hệ thống NLKH dễ có khả năng đem lại thu nhập cao cho nông hộ.
Vai trò giảm rủi ro trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực: Nhờ có cấu trúc phức tạp, đa dang được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống NLKH thường có tính ổn định cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như dịch sâu bệnh, hạn hán, v. Sự đa dạng về loại sản phẩm đầu ra cũng góp phần giảm rủi ro về thị trường và giá cả cho nông hộ. Mặt khác nó là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm trong sinh hoạt thường ngày cho nông hộ [6,30,33]. Có thể thấy phương thức NLKH đem lại cho hộ canh tác lợi ích kinh tế: như tạo ra đa dạng sản phẩm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của người dân trong và gần rừng.
Các lợi ích xã hội: như tạo công ăn việc làm cho người dân và đặc biệt là các lợi ích về môi trường: như cải thiện môi trường đất, nước, không khí, điều hòa nguồn nước, đa dạng sinh học. Đây chính là vai trò của NLKH trong giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mô hình NLKH không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất, mà còn đáp ứng các yêu cầu về bền vững môi trường như bảo vệ, cải thiện đất, giữ nước và hấp thụ và lưu giữ khí CO2 trong hệ thống, giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển, đóng góp vào việc giảm thiểu sự biến đổi khí hậu. Tình hình NLKH trên thế giới Thật khó có thể xác định một cách chính xác thời điểm mà tại đó hệ thống NLKH ra đời.
Mặc dù vậy, người ta vẫn thừa nhận rằng sự hình thành và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của các ngành khoa học thuộc nông lâm nghiệp, và gắn liền với sự nhận thức của con người về sử dụng đất và nhu cầu kinh tế. Lúc đầu, du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất, tiếp theo 8 cuộc cách mạng về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, sau du canh, sự ra đời của phương thức Taungya (canh tác đồi núi) ở vùng nhiệt đới được xem là một dấu hiệu báo trước cho phương thức NLKH sau này. Trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về NLKH trong sử dụng và bảo vệ đất dốc, khó có thể xác định được số người đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này do vậy chỉ có thể bó hẹp trong phạm vi nghiên cứu nào đó trên thế giới. “Trong vòng hai thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX, dưới sự bảo trợ của nhóm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR) nhiều trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế được thành lập ở nhiều khu vực trên thế giới nhằm nghiên cứu nâng cao năng suất của các loại cây trồng và vật nuôi chủ yếu ở các vùng nhiệt đới.