Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành nông nghiệp giữ vai trò trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, với hơn 70% dân số sống dựa vào sản xuất nông nghiệp và sinh kế nông thôn. Tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tự nhiên là 485.705 ha đất nông nghiệp, 19.011 ha đất phi nông nghiệp và 7.280 ha đất chưa sử dụng, sở hữu địa hình đồi núi phù hợp để phát triển các loại nông - lâm sản có chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể như cam, quýt, hồng không hạt, gạo Bao thai Chợ Đồn và miến dong. Nghị quyết số 02-NQ/ĐH ngày 17/10/2015 của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XI (nhiệm kỳ 2015-2020) đã xác định nhiệm vụ trọng tâm: "Thực hiện phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường", trong đó xác định cây dong riềng là một trong những cây trồng mũi nhọn.
Tại huyện Ba Bể, diện tích gieo trồng cây nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và địa phương đã mở rộng diện tích dong riềng lên hơn 822 ha nhằm cung cấp nguyên liệu chế biến miến dong thương phẩm. Xã Phúc Lộc là vùng sản xuất và chế biến dong riềng tập trung lớn nhất của huyện Ba Bể, chiếm gần 30% diện tích toàn huyện (khoảng 229,2 ha tại các vùng quy hoạch). Tuy nhiên, quá trình mở rộng diện tích canh tác làm nảy sinh các vấn đề về đầu ra, nguy cơ tư thương ép giá và biến động giá tinh bột nguyên liệu. Nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc phát triển vùng nguyên liệu, sinh viên Lý Thị Hò thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây dong riềng tại xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn" thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2019).
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng cây dong riềng trên địa bàn xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được thực trạng sản xuất dong riềng tại xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Phân tích được hiệu quả của sản xuất dong riềng tại xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Phân tích được những thuận lợi, khó khăn và làm rõ tính bền vững của việc phát triển sản xuất dong riềng.
- Đề xuất được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của dong riềng trong thực tiễn sản xuất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nông dân trồng dong riềng và các vấn đề kinh tế vi mô liên quan đến hiệu quả kinh tế của cây dong riềng.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, tập trung thu thập số liệu nông hộ tại hai thôn trọng điểm là thôn Cốc Diển và thôn Cốc Muồi.
- Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện điều tra thực tập từ ngày 13/08/2018 đến ngày 23/12/2018. Chuỗi số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 3 năm từ 2016 đến 2018; số liệu sơ cấp điều tra hộ nông dân được thực hiện vào năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng lý thuyết kinh tế nông nghiệp về hiệu quả kinh tế và kinh tế hộ:
- Khái niệm hiệu quả kinh tế: Được xác định là tương quan so sánh giữa kết quả sản xuất đạt được với tổng khối lượng hao phí lao động sống và lao động vật hóa bỏ ra nhằm đạt mức tiết kiệm chi phí trên một đơn vị sản phẩm. Nghiên cứu đồng thời xem xét hiệu quả xã hội (tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định trật tự nông thôn) và hiệu quả môi trường (độ che phủ, giảm xói mòn rửa trôi, hạn chế sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật).
- Khái niệm và đặc điểm kinh tế hộ nông dân: Dẫn chiếu theo định nghĩa của Frank Ellis (1988), hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở vừa sản xuất vừa tiêu dùng, sử dụng chủ yếu lao động gia đình, có quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế và thường lựa chọn phương thức sản xuất tránh rủi ro.
- Các công thức xác định hiệu quả:
- Dạng tỷ số: $H = Q / C$ (Kết quả thu được / Chi phí sản xuất).
- Dạng hiệu số: $H = Q - C$ (Kết quả thu được - Chi phí sản xuất).
- Tỷ lệ thuận ($Đầu\ ra / Đầu\ vào$) và tỷ lệ nghịch ($Đầu\ vào / Đầu\ ra$).
- Hệ thống chỉ tiêu hạch toán kinh tế hộ:
- Giá trị sản xuất nông nghiệp ($GO$): $GO = \sum_{i=1}^n (Q_i \times P_i)$ với $Q_i$ là sản lượng và $P_i$ là đơn giá.
- Chi phí trung gian ($IC$): Toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ thực tế chi ra cho quá trình sản xuất (giống, phân bón...).
- Giá trị tăng thêm ($VA$): $VA = GO - IC$.
- Thu nhập hỗn hợp ($MI$): $MI = VA - (A + T + L)$ (với $A$ là khấu hao, $T$ là thuế, $L$ là chi phí thuê lao động ngoài).
- Lợi nhuận sản xuất ($Pr$): $Pr = MI - L \times P_i$ (với $L \times P_i$ là chi phí cơ hội của lao động gia đình).
- Các chỉ tiêu hiệu quả so sánh: Hiệu quả trên một đơn vị diện tích 1 sào ($GO/sào$, $VA/sào$, $TPr/sào$); hiệu quả sử dụng chi phí trung gian/vốn ($GO/IC$, $VA/IC$, $TPr/IC$); hiệu quả sử dụng công lao động ($GO/CLĐ$, $VA/CLĐ$, $TPr/CLĐ$).
- Văn bản pháp quy và chính sách liên quan: Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục dự án ưu đãi đầu tư; Quyết định 206/QĐ-BYT-2015; Quyết định 3808/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Kạn về phát triển dong riềng giai đoạn 2010-2015, định hướng đến 2020; Đề tài bảo hộ nhãn hiệu tập thể miến dong Bắc Kạn do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn chủ trì.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp cận báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo khuyến nông từ UBND xã Phúc Lộc trong các năm 2016, 2017 và 2018.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Chọn mẫu ngẫu nhiên 40 hộ nông dân canh tác dong riềng tại 2 thôn có quy mô diện tích lớn nhất xã Phúc Lộc gồm 30 hộ tại thôn Cốc Diển và 10 hộ tại thôn Cốc Muồi. Sử dụng phiếu điều tra bảng hỏi in sẵn kết hợp phỏng vấn trực tiếp chủ hộ, trưởng thôn và cán bộ nông nghiệp xã.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để làm sạch, tổng hợp và tính toán các chỉ số kinh tế. Áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân) để đối chiếu kết quả giữa cây dong riềng và cây ngô. Đơn vị diện tích tính toán quy chuẩn theo sào Bắc Bộ ($360\ m^2$), sản phẩm dong riềng hạch toán quy đổi theo khối lượng tinh bột tươi tại thời điểm điều tra năm 2018.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả nêu bật bối cảnh nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn với thế mạnh phát triển cây trồng đặc sản có giá trị kinh tế. Cây dong riềng đã phát triển từ cây tự cấp thành cây nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất miến dong tại huyện Ba Bể với quy mô hơn 822 ha. Tại xã Phúc Lộc, dong riềng đóng vai trò cây mũi nhọn xóa đói giảm nghèo nhưng bộc lộ nhiều thách thức về thị trường tiêu thụ và biến động giá cả. Tác giả xác lập hệ thống mục tiêu nghiên cứu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa nghiên cứu đối với công tác học tập và sản xuất thực tiễn, đồng thời khái quát kết cấu khóa luận gồm 5 phần chính.
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này tổng kết cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội và môi trường. Tác giả luận giải đặc trưng của kinh tế hộ nông dân theo lý thuyết của Ellis (1988), chỉ rõ hạn chế về vốn, đất đai và tâm lý phòng ngừa rủi ro của người sản xuất quy mô nhỏ. Đồng thời, chương trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nông hộ gồm chính sách pháp luật, điều kiện tự nhiên - môi trường và đặc điểm nội tại của nông hộ.
Về cơ sở thực tiễn, tác giả tổng hợp tình hình phát triển cây dong riềng tại Việt Nam (các tỉnh Hưng Yên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn). Tại tỉnh Bắc Kạn, cây dong riềng mang lại thu nhập bình quân từ 80 đến 90 triệu đồng/ha, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn đã hoàn thành việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể "Miến dong Bắc Kạn". Tại xã Phúc Lộc, toàn xã trồng gần 229,2 ha dong riềng (chiếm gần 30% diện tích toàn huyện), cung cấp nguyên liệu cho hơn 20 cơ sở chế biến tinh bột, thu hút 220 đến 240 lao động mùa vụ; thu nhập từ dong riềng hỗ trợ 3,8% hộ dân xây nhà kiên cố và 96,1% hộ có nhà bán kiên cố, tạo việc làm trong vụ 3 và giảm thiểu tình trạng phá rừng trái phép.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày cụ thể đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân và chỉ tiêu kinh tế sản xuất cây dong riềng tại xã Phúc Lộc. Giới hạn không gian tại xã Phúc Lộc (trọng tâm là thôn Cốc Diển và Cốc Muồi), thời gian thực tập từ 13/08/2018 đến 23/12/2018, số liệu chuỗi thời gian thứ cấp 2016-2018 và số liệu khảo sát sơ cấp năm 2018. Mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 40 hộ (30 hộ thôn Cốc Diển, 10 hộ thôn Cốc Muồi) thông qua bảng câu hỏi cấu trúc. Thiết lập hệ thống công thức tính toán các chỉ tiêu $GO, IC, VA, MI, Pr$ và hệ thống tỷ số phản ánh hiệu quả trên 1 sào, trên 1.000 đồng chi phí trung gian ($IC$) và trên 1 công lao động ($CLĐ$).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 tập trung phân tích thực nghiệm qua các nhóm nội dung:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Phúc Lộc có tổng diện tích tự nhiên 6.292,82 ha, địa hình đồi núi dốc trên 75° chiếm trên 70%, độ cao 400 - 1.200 m so với mực nước biển. Đất lâm nghiệp chiếm 78,54% (4.942,23 ha năm 2018), đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 8,40% (528,74 ha). Đất đai chủ yếu thuộc hạng thuế 4, 5, 6 (hạng 5 chiếm trên 60%), hàm lượng mùn nghèo (< 1,0%). Dân số toàn xã là 3.142 người với 643 hộ phân bố tại 19 thôn; lao động nông nghiệp chiếm 96,64% (1.784 người trên tổng số 1.846 lao động). Giá trị kinh tế năm 2018 đạt 33,127 tỷ đồng, trong đó nông - lâm - thủy sản chiếm 92,38% (30,602 tỷ đồng). Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều năm 2018 ở mức cao là 54,5%.
- Thực trạng sản xuất dong riềng toàn xã (2016 - 2018): Diện tích gieo trồng tăng từ 82,6 ha (2016) lên 84,3 ha (2017) và đạt 86,5 ha (2018). Năng suất củ tăng từ 676,1 tạ/ha (2016) lên 712,7 tạ/ha (2017) và 782,3 tạ/ha (2018). Sản lượng củ tương ứng tăng từ 5.880,7 tấn lên 6.517,5 tấn. Kênh tiêu thụ diễn ra tự do theo sơ đồ: Người sản xuất $\rightarrow$ Thương lái $\rightarrow$ Người tiêu dùng, hoàn toàn thiếu hợp đồng bao tiêu bền vững.
- Đặc điểm nhóm 40 hộ điều tra: Độ tuổi trung bình chủ hộ là 36,0 tuổi; trình độ học vấn bình quân đạt lớp 5,0; nhân khẩu trung bình 5,0 người/hộ; lao động chính bình quân 3,0 người/hộ. Quy mô diện tích trồng dong riềng bình quân đạt 3,1 sào/hộ; năng suất củ bình quân đạt 2.183,4 kg/sào; sản lượng tinh bột tươi thu được bình quân 1.612,5 kg/hộ; giá bán tinh bột tươi bình quân là 8,5 nghìn đồng/kg.
- Chi phí và hiệu quả sản xuất dong riềng so sánh với cây ngô trên 1 sào: Dong riềng có tổng chi phí sản xuất 4.197,5 nghìn đồng/sào (trong đó chi phí trung gian là 402,5 nghìn đồng gồm giống và phân đạm, NPK, kali; chi phí 25,3 công lao động là 3.795,0 nghìn đồng; không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật). Cây ngô có tổng chi phí 1.739,0 nghìn đồng/sào (chi phí trung gian 184,0 nghìn đồng, công lao động 9,7 công tương ứng 1.455,0 nghìn đồng). Tổng giá trị sản xuất ($GO$) dong riềng đạt 13.649,8 nghìn đồng/sào, giá trị gia tăng ($VA$) đạt 13.247,3 nghìn đồng/sào và lợi nhuận ($TPr$) đạt 9.452,3 nghìn đồng/sào, vượt trội so với cây ngô ($GO$ đạt 2.394,4 nghìn đồng; $VA$ đạt 2.210,4 nghìn đồng; lợi nhuận đạt 655,4 nghìn đồng).
- Thuận lợi, khó khăn và giải pháp: Khó khăn lớn nhất là người dân thiếu vốn, trình độ thâm canh hạn chế, hạ tầng giao thông cách trở và bị tư thương ép giá. Tác giả đề xuất các giải pháp chung và cụ thể: mở rộng tập huấn kỹ thuật, tăng cường vốn qua chính sách bán vật tư trả chậm, nâng cấp đường giao thông liên thôn và thành lập các tổ hợp tác/hợp tác xã để ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các kết quả nghiên cứu, khẳng định việc đưa giống dong riềng DR1 vào sản xuất tại xã Phúc Lộc là hướng chuyển đổi cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái vùng núi dốc, tạo việc làm và tăng thu nhập rõ rệt cho đồng bào địa phương. Đưa ra các kiến nghị cụ thể: đối với chính quyền các cấp (hỗ trợ vốn tín dụng, hoàn thiện quy hoạch vùng trồng, đầu tư hạ tầng đường giao thông, hỗ trợ xúc tiến thương mại); đối với hộ nông dân (chủ động tuyển chọn củ giống đạt chuẩn, bón phân đúng quy trình kỹ thuật, thăm đồng thường xuyên nhằm phát hiện sớm bệnh nấm, chủ động liên kết sản xuất và theo dõi sát biến động giá cả thị trường).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp các số liệu định lượng chi tiết so sánh hiệu quả kinh tế trên 1 sào ($360\ m^2$) giữa cây dong riềng và cây ngô tại xã Phúc Lộc năm 2018:
| STT |
Chỉ tiêu kinh tế |
Đơn vị tính |
Cây dong riềng |
Cây ngô |
Tương quan dong riềng/ngô (lần) |
| 1 |
Năng suất bình quân |
kg/sào |
2.183,4 |
154,0 |
14,2 |
| 2 |
Giá bán bình quân quy đổi |
1.000 đ/kg |
8,5 |
5,6 |
1,5 |
| 3 |
Tổng giá trị sản xuất ($GO$) |
1.000 đ |
13.649,8 |
2.394,4 |
5,7 |
| 4 |
Chi phí trung gian ($IC$) |
1.000 đ |
402,5 |
184,0 |
2,2 |
| 5 |
Giá trị gia tăng ($VA$) |
1.000 đ |
13.247,3 |
2.210,4 |
6,0 |
| 6 |
Chi phí công lao động ($CLĐ$) |
1.000 đ |
3.795,0 |
1.455,0 |
2,6 |
| 7 |
Tổng chi phí ($TC$) |
1.000 đ |
4.197,5 |
1.739,0 |
2,4 |
| 8 |
Lợi nhuận sản xuất ($TPr$) |
1.000 đ |
9.452,3 |
655,4 |
14,7 |
| 9 |
Hiệu quả vốn $GO/IC$ |
lần |
33,9 |
12,9 |
2,6 |
| 10 |
Hiệu quả vốn $VA/IC$ |
lần |
32,9 |
11,9 |
2,8 |
| 11 |
Hiệu quả vốn $TPr/IC$ |
lần |
23,5 |
3,5 |
6,7 |
| 12 |
Hiệu quả lao động $GO/CLĐ$ |
lần |
3,6 |
1,6 |
2,3 |
| 13 |
Hiệu quả lao động $VA/CLĐ$ |
lần |
3,5 |
1,5 |
2,3 |
| 14 |
Hiệu quả lao động $TPr/CLĐ$ |
lần |
2,5 |
0,5 |
5,0 |
Các giải pháp và kiến nghị cụ thể do tác giả đề xuất:
- Giải pháp kỹ thuật: Khuyến cáo ứng dụng giống dong riềng DR1 có khả năng thích ứng cao, kháng sâu bệnh và hàm lượng tinh bột lớn. Tăng tần suất tập huấn kỹ thuật thâm canh và phòng trừ bệnh nấm cho nông dân thông qua cán bộ khuyến nông cơ sở.
- Giải pháp vốn đầu tư: Đề xuất cơ chế cung ứng vật tư nông nghiệp (phân bón) theo phương thức trả chậm sau khi thu hoạch củ, đơn giản hóa thủ tục vay vốn tín dụng chính sách tại địa phương.
- Giải pháp tiêu thụ và liên kết thị trường: Khuyến nghị thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất dong riềng tại các thôn nhằm tạo tư cách pháp nhân ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm trực tiếp với các xưởng chế biến miến, khắc phục tình trạng phụ thuộc hoàn toàn vào tư thương tự do.
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm hoàn chỉnh về hiệu quả kinh tế cây dong riềng cấp hộ tại một xã vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc Kạn.
- Chứng minh bằng số liệu hạch toán cụ thể rằng cây dong riềng mang lại lợi nhuận cao gấp 14,7 lần và giá trị gia tăng cao gấp 6,0 lần so với cây ngô truyền thống trên cùng một đơn vị diện tích.
- Xác định rõ cây dong riềng tại địa phương không cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, góp phần khẳng định tính an toàn sinh thái và độ thân thiện với môi trường canh tác vùng đồi dốc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát sơ cấp còn hẹp, mới thu thập ngẫu nhiên tại 40 hộ nông dân tập trung ở 2 thôn (Cốc Diển và Cốc Muồi) trên tổng số 19 thôn của toàn xã Phúc Lộc.
- Thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2018), các chỉ tiêu tài chính và giá bán được tính toán theo thời điểm điều tra năm 2018, chưa phản ánh đầy đủ chu kỳ biến động giá bột dong tươi qua nhiều vụ sản xuất khác nhau.
- Số liệu tính toán hạch toán chủ yếu dựa trên sản phẩm củ quy đổi ra tinh bột tươi của hộ, chưa mở rộng phân tích chuỗi giá trị chế biến sâu thành phẩm miến dong khô tại các cơ sở chế biến trên địa bàn.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát ra toàn bộ các thôn có quy hoạch trồng dong riềng tại xã Phúc Lộc và đối chiếu với các xã lân cận trong huyện Ba Bể hoặc huyện Na Rì.
- Nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị và phân phối thặng dư kinh tế giữa các tác nhân tham gia: người trồng dong riềng, thương lái trung gian, cơ sở tinh chế bột và xưởng sản xuất miến dong thương phẩm có nhãn hiệu tập thể.
- Đánh giá định lượng tác động của chính sách bảo hộ nhãn hiệu tập thể "Miến dong Bắc Kạn" đối với mức độ ổn định giá và thu nhập của nông hộ.
Giá trị tham khảo
- Khóa luận là tài liệu tham khảo thực tế cho sinh viên và học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Khuyến nông và Phát triển nông thôn khi thực hiện các đề tài điều tra nông hộ và đánh giá hiệu quả kinh tế cây trồng.
- Cung cấp quy trình hạch toán chi phí - thu nhập chuẩn theo đơn vị diện tích sào Bắc Bộ, các công thức tính toán chỉ tiêu kinh tế vi mô ($GO, IC, VA, MI, Pr$) kèm tỷ số hiệu quả vốn và lao động dễ áp dụng cho các nghiên cứu tương tự.
- Cung cấp nguồn số liệu kinh tế - xã hội và số liệu canh tác dong riềng xác thực giai đoạn 2016-2018 cho cán bộ chính quyền, phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Ba Bể, UBND xã Phúc Lộc trong việc xây dựng đề án quy hoạch vùng nguyên liệu và quản lý các cơ sở chế biến miến dong địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Chi phí sản xuất và lợi nhuận trên 1 sào cây dong riềng tại xã Phúc Lộc chênh lệch như thế nào so với cây ngô?
Theo số liệu điều tra năm 2018 của khóa luận, trên 1 sào canh tác:
- Cây dong riềng có tổng chi phí sản xuất là 4.197,5 nghìn đồng (chi phí trung gian $IC$ là 402,5 nghìn đồng; công lao động là 25,3 công tương ứng 3.795,0 nghìn đồng), tạo ra tổng giá trị sản xuất $GO$ là 13.649,8 nghìn đồng và lợi nhuận đạt 9.452,3 nghìn đồng.
- Cây ngô có tổng chi phí là 1.739,0 nghìn đồng (chi phí trung gian $IC$ là 184,0 nghìn đồng; công lao động là 9,7 công tương ứng 1.455,0 nghìn đồng), tạo ra $GO$ là 2.394,4 nghìn đồng và lợi nhuận đạt 655,4 nghìn đồng.
- Như vậy, tổng chi phí sản xuất dong riềng cao gấp 2,4 lần cây ngô nhưng lợi nhuận mang lại cao gấp 14,7 lần.
Quy mô mẫu điều tra sơ cấp của đề tài được phân bổ như thế nào?
Tác giả đã chọn mẫu ngẫu nhiên 40 chủ hộ tại 2 thôn có diện tích gieo trồng dong riềng trọng điểm của xã Phúc Lộc:
- Thôn Cốc Diển: Điều tra 30 hộ.
- Thôn Cốc Muồi: Điều tra 10 hộ.
Phương pháp thu thập được thực hiện qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi in sẵn, kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ xã và trưởng thôn từ ngày 13/08/2018 đến ngày 23/12/2018.
Cây dong riềng tại xã Phúc Lộc có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không và ảnh hưởng tới môi trường ra sao?
Theo ghi nhận từ hạch toán chi phí 40 hộ điều tra, chi phí thuốc bảo vệ thực vật cho cây dong riềng bằng 0. Cây dong riềng sinh trưởng tốt, ít bị sâu bệnh hại nghiêm trọng dưới điều kiện sinh thái địa phương, do đó quá trình canh tác không gây ô nhiễm hóa chất cho đất và nguồn nước mặt, được đánh giá là loại cây trồng thân thiện với môi trường.
Chuỗi tiêu thụ sản phẩm dong riềng tại xã Phúc Lộc diễn ra theo kênh nào và có hạn chế gì?
Sản phẩm dong riềng tại xã Phúc Lộc được tiêu thụ theo một kênh duy nhất: Người sản xuất $\rightarrow$ Thương lái $\rightarrow$ Người tiêu dùng. Hạn chế lớn nhất là giữa nông dân và các cơ sở chế biến tinh bột chưa có hợp đồng kinh tế ràng buộc, việc mua bán diễn ra tự do dẫn đến tình trạng nông dân dễ bị thương lái ép giá khi thị trường tinh bột biến động giảm.
Sản xuất và chế biến dong riềng đóng góp gì cho vấn đề việc làm và xã hội tại xã Phúc Lộc?
Cây dong riềng tạo sinh kế trong vụ thứ 3 (thời điểm trước đây đất bỏ hoang không canh tác), thu hút từ 220 đến 240 lao động làm việc tại hơn 20 cơ sở chế biến tinh bột trên địa bàn xã. Nguồn thu nhập từ dong riềng đã giúp giảm thiểu tình trạng phá rừng trái phép, đồng thời giúp 3,8% số hộ xây dựng được nhà ở kiên cố và 96,1% số hộ có nhà ở bán kiên cố.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Lý Thị Hò đã đánh giá toàn diện thực trạng canh tác và phân tích định lượng hiệu quả kinh tế của cây dong riềng tại xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn qua hệ thống dữ liệu thực địa năm 2018. Kết quả nghiên cứu chứng minh cây dong riềng vượt trội hơn hẳn cây ngô về giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và hiệu quả sử dụng lao động, đóng vai trò cây trồng chủ lực trong giảm nghèo tại địa bàn miền núi. Bên cạnh việc chỉ ra các điểm nghẽn về thị trường tiêu thụ tự do và thiếu hụt vốn đầu tư thâm canh, khóa luận đã đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật, tín dụng trả chậm và hợp tác liên kết có tính ứng dụng cao đối với định hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa tại địa phương.