MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cao su là cây công nghiệp lâu năm, có giá trị kinh tế cao được trồng nhiều ở các nước trên thế giới như Thái Lan, Campuchia, Indonexia, Brazil…Ngoài giá trị về mặt kinh tế nó còn có tác dụng rất lớn về mặt sinh thái. Hiện nay, mủ cao su đã trở thành 1 trong 4 nguyên liệu chính của ngành công nghiệp thế giới. Nó đứng sau gang thép, than đá và dầu mỏ.
Sản phẩm cần đến cao su có thể kể đến các loại sau: Cao su vỏ ruột xe chiếm 70% sản lượng cao su thế giới, kế đến đó là cao su dùng để làm các ống ,băng chuyền,đệm giảm xóc,vật liệu chóng mài mòn, các trang thiết bị hàng không, dụng cụ gia đình và dụng cụ thể thao… Ở Việt Nam cao su đã trở thành cây trồng chủ lực,tạo công ăn việc làm cho người lao động ở nông thôn, góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội. Thực hiện quyết định số 750/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Tính đến năm 2018 toàn tỉnh Điện Biên trồng 5.000 ha cây cao su; trong hơn 3.700 ha thuộc quyền quản lý của Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên, hơn 1.200 ha thuộc quản lý của Công ty Cổ phần Cao su Mường Nhé. Nông trường cao su Điện Biên là Chi nhánh Công ty cổ phần cao su Điện Biên, với nhiệm vụ chính là trồng, chăm sóc và khai thác mủ cao su.
Khi vườn cây của Nông trường đưa vào kinh doanh có thể khẳng định Cao su là loại cây có thể góp phần xóa đói giảm nghèo, là cây thay đổi cơ cấu trong sản xuất của công nhân và người lao động trong Nông trường.Trong những năm gần đây cùng với sự biến động liên tục của các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất và sự biến đổi thất thường của thời tiết đã gây ra nhiều khó 2 khăn, bất lợi cho việc trồng, chăm sóc và kinh doanh cao su của các doanh nghiệp trên cả nước nói chung và nông trường cao su Điện Biên nói riêng. Xuất phát từ sự quan tâm đó tôi đã chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây Cao su tại Nông trường cao su Điện Biên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” làm đề tài tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh của nông trường trong thời gian từ năm 2016-2018, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn cũng như những cơ hội, thách thức đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cao su, tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của nông trường.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được tình hình sản xuất chung tại Nông trường cao su Điện Biên. - Đánh giá được hiệu quả kinh tế của cây cao su tại Nông trường cao su Điện Biên. - Phân tích được các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong hoạt động sản xuất tại Nông trường cao su Điện Biên. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Củng cố kiến thức đã học với thực tiễn trong quá trình đi thực tập tại cơ sở. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin kỹ năng nghề nghiệp. Ý nghĩa thực tiễn Là tài liệu tham khảo giúp địa phương được chọn làm địa điểm thực tập xây dựng quy hoạch phát triển sản xuất cây cao su. Có ý nghĩa thiết thực cho 3 quá trình sản xuất cây cao su tại địa phương và đối với các địa phương có điều kiện tương tự.
Đóng góp mới của đề tài - Đánh giá một cách tương đối về HQKT của cây Cao su tại địa phương. - Đánh giá được sự ảnh hưởng của các nhân tố: trình độ học vấn của chủ hộ, khoa học kỹ thuật tới HQKT của cây cao su. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các khái niệm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế (HQKT) là phạm trù kinh tế khách quan, là thước đo quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế.
Đây cũng là mục tiêu quan trọng nhất mà các chủ thể kinh tế muốn đạt được. Việc nâng cao HQKT là một đòi hỏi khách quan của các chủ thể sản xuất và của nền sản xuất xã hội. Vì vậy, việc hiểu đúng bản chất của HQKT, xác định đúng các chỉ tiêu để đolường, đánh giá HQKT là vấn đề quan trọng cần làm rõ khi phân tích hiệu quả sảnxuất của một hoạt động trong nền kinh tế. Theo Nguyễn Đức Dỵ [4]: “HQKT là mối tương quan giữa các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hóa dịch vụ”.
Khái niệm HQKT được dùng làm một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào? Như vậy, có thể hiểu HQKT là mức độ thành công của các chủ thể sản xuất trong việc phân bổ các yếu tố nguồn lực kham hiếm để sản xuất ra sản phẩm, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Theo Samuelson và Nordhaus [21]: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một cách hàng loạt của một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác”. Thực chất quan điểm hiệu quả này là đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực làm tăng hiệu quả.
Theo Phạm Ngọc Kiểm [9]: “HQKT phản ánh trình độ khai thác vàtiết kiệm chi phí các nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu trong quá trình sản 5 xuất”. Quan điểm hiệu quả này đã chú ý đến việc đánh giá HQKT theo chiều sâu, hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong quá trình sản xuất. Theo các tác giả Farrell [18], Coelli [16] và Ellis [17], Kalirajan [19] HQKT (EE – Economic efficiency) gồm hai bộ phận là hiệu quả kỹ thuật (TE – Technical efficiency) và hiệu quả phân bổ (AE – Allocative efficiency). - Hiệu quả kỹ thuật (TE): Là khả năng tạo ra một khối lượng đầu ra cho trước từ một khối lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo ra một khối lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ nhất định.
Hiệu quả kỹ thuật được đo bằng số lượng sản phẩm có thể đạt được trên số nguồn lực sử dụng vào sản xuất. Theo Koopman [20] một nhà sản xuất đạt hiệu quả kỹ thuật nếu họ không thể sản xuất nhiều hơn bất kỳ một đầu ra nào mà không sản xuất ít hơn một số lượng đầu ra khác hoặc sử dụng nhiều hơn các yếu tố đầu vào. Hiệu quả kỹ thuật chỉ liên quan đến phương diện vật chất của quá trình sản xuất. Nó phản ảnh mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra, giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu vào.
Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào công nghệ được áp dụng cũng như trình độ chuyên môn tay nghề của người sản xuất. - Hiệu quả phân bổ (AE): là khả năng lựa chọn được một khối lượng đầu vào tối ưu mà ở đó giá trị sản phẩm biên của đơn vị đầu vào cuối cùng bằng với giá của đầu vào đó. Hiệu quả phân bổ là thước đo mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn các tổ hợp đầu vào tối ưu. Khi nắm được giá của các yếu tố đầu vào và đầu ra, người sản xuất sẽ quyết định mức sử dụng các yếu tố đầu vào theo một tỷ lệ nhất định để đạt được lợi nhuận tối đa.
Sự khác nhau trong HQKT của các doanh nghiệp có thể do sự khác nhau về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. 6 Colman và Young [3] cho rằng hiệu quả kỹ thuật chỉ liên quan đến tính vật chất của quá trình sản xuất. Do đó, có thể coi nó là mục đích phổ biến thích hợp với mọi hệ thống kinh tế. Mặt khác, hiệu quả phân bổ và HQKT cho thấy mục đích của nhà doanh nghiệp là làm cho lợi nhuận đạt mức tối đa.
Khi xem xét tổng thể quá trình sản xuất, nhà sản xuất thường đặt mục tiêu là sản xuất ra sản phẩm đầu ra với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các yếu tố nguồn lực sao cho tối đa hóa doanh thu, hoặc phân bố cách kết hợp đầu vào đầu ra sao cho tối đa hóa lợi nhuận. Như vậy, quan điểm HQKT này đã đánh giá tốt nhất trình độ sử dụng nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Khái niệm HQKT đã khẳng định bản chất của HQKT trong hoạt động sản xuất là phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của HQKT, cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm kết quả và HQKT, phân biệt HQKT với các chỉ tiêu đo lường HQKT.
Thứ nhất, về sự khác nhau giữa kết quả và HQKT: Kết quả và HQKT là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, nhưng có liên quan mật thiết với nhau. HQKT là phạm trù thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Còn kết quả là những gì đạt được sau một quá trình sản xuất. Kết quả đạt được cũng là mục tiêu của quá trình sản xuất.
Trong sản xuất nông nghiệp, kết quả sản xuất có thể là khối lượng nông sản thu được, giá trị sản xuất, lợi nhuận. Nhưng những kết quả này không nói lên được nó được tạo ra bằng cách nào? Cách thức thực hiện ra sao? Các yếu tố nguồn lực được sử dụng nhiều hay ít? Như vậy, nó không phản ánh được việc đầu tư sản xuất có hiệu quả hay không? Các nguồn lực được sử dụng như thế nào? Trình độ tổ chức sản xuất của các chủ thể trong nông nghiệp ra sao? Để phản ánh được các câu hỏi này, kết quả sản xuất thu được phải được đặt trong mối quan hệ so sánh với chí phí đầu tư hoặc các 7 nguồn lực được sử dụng. Với điều kiện nguồn lực có hạn, quá trình sản xuất phải tạo ra được kết quả sản xuất cao. Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất và HQKT cho biết được điều này.
Thứ hai, về HQKT và chỉ tiêu đo lường HQKT: HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng tổng hợp của một quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm hai mặt định tính và định lượng.