CHƯƠNG 1: Giới thiệu CHƯƠNG 2: Lý thuyết tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh và các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh tại NHTM CHƯƠNG 3: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Á Châu theo mô hình CAMELS HIS CHƯƠNG 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua việc đánh giá từ mô hình CAMELS HIS tại Ngân hàng TMCP Á Châu 1. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng mô hình CAMELS HIS để thực hiện phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Á Châu. Đồng thời, sử dụng phương pháp thống kê, mô tả, tính toán, tổng hợp, và phân tích trên dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính (bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo luân chuyển tiền tệ và Thuyết minh các báo cáo tài chính) và báo cáo thường niên của Ngân hàng TMCP Á Châu. Ngoài ra, luận văn còn thu thập thông tin từ các báo cáo của các cơ quan thống kê, tạp chí chuyên ngành kinh tế, tài chính NH, tài liệu, ấn phẩm đã được công bố… 4 1.
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu - Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận liên quan hiệu quả hoạt động kinh doanh và các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh NH. Hoàn thiện, bổ sung cơ sở lý luận về phương pháp nghiên cứu và mô hình đánh giá mức độ rủi ro CAMELS HIS. - Ý nghĩa thực tiễn: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Á Châu nhằm đánh giá tác động của từng nhân tố trong mô hình CAMELS HIS đến hoạt động kinh doanh của NH; từ đó, thấy được những vấn đề đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục. Đưa ra những giải pháp mang tính thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Á Châu.
5 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NHTM 2. Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Hiệu quả là vấn đề được chú trọng trong nhiều lĩnh vực đời sống và được xem là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng của mọi hoạt động. Trong kinh tế, hiệu quả hoạt động kinh doanh (HĐKD) luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Có nhiều cách tiếp cận để hiểu về khái niệm hiệu quả nói chung và hiệu quả HĐKD nói riêng.
Trong phạm vi của luận văn này quan tâm đến các khái niệm về hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là khái niệm hiệu quả HĐKD của các NHTM. Trong đó các các quan điểm nổi bật: Theo nhà kinh tế học Adam Smith, hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Còn Farell (1957) cho rằng hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó. Ngoài ra, còn có quan điểm của Draft (2008), cho rằng hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh.
Theo Ngô Đình Giao (1997), hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu thị trường. Những khái niệm về hiệu quả HĐKD là đa dạng, nhưng có thể hiểu rằng hiệu quả HĐKD là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các HĐKD của doanh nghiệp dựa trên cơ sở so sánh lợi ích (doanh thu, lợi nhuận…) thu được với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. 6 NH là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, nhìn ở một góc độ cụ thể hơn lại có những quan điểm riêng về hiệu quả HĐKD của NH: Peter S.
Rose (2004) cho rằng: về bản chất NHTM cũng có thể được xem là một tập đoàn kinh doanh, hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Đạt được hiệu quả kinh doanh cao là mục tiêu mà các NH quan tâm vì nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NH, đồng thời có thể giúp NH mở rộng quy mô hoạt động của mình. Theo NH trung ương châu Âu ECB (2010), hiệu quả HĐKD của NH là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khỏan lợi nhuận giữ lại.
Như vậy, HĐKD của NH cũng như các doanh nghiệp khác đều nhằm mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.Tuy nhiên, NH còn đóng vai trò của một trung gian tài chính. Đây là ngành kinh doanh có mức độ rủi ro cao so với các ngành khác, nên một NH được đánh giá là hoạt động có hiệu quả không những phải đáp ứng được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với chi phí tối thiểu mà còn phải đáp ứng thường xuyên các yêu cầu về an toàn hoạt động và giảm thiểu mức độ rủi ro. Do đó, khi đề cập đến khái niệm hiệu quả HĐKD của các NHTM cần phải xem xét tính hiệu quả dựa trên nhiều khía cạnh: lợi nhuận, chi phí, chất lượng tài sản, khả năng đáp ứng thanh khoản,… 2. Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiện nay trên thế giới và ở nước ta có rất nhiều phương pháp được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Mỗi phương pháp, mỗi mô hình đều có những cách thức riêng, có những ưu và nhược điểm riêng. Tùy theo góc độ nhìn nhận, quan điểm nghiên cứu và mức độ sẵn có của nguồn dữ liệu mà nhà nghiên cứu sẽ quyết định phương pháp nào hoặc mô hình nào phù hợp với tình huống nghiên cứu của mình. Phương pháp đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính Phương pháp đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính là phương pháp truyền thống, được thực hiện trên cơ sở đánh giá các nhóm hệ số tài chính cơ bản. Các nhóm hệ số tài chính thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM là: nhóm chỉ tiêu phản án khả năng sinh lời, nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập - chi phí và nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính.
Mỗi hệ số tài chính thể hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa hai hay nhiều biến số tài chính, cho phép so sánh sự khác biệt giữa các NH và đánh giá sự biến động của tình hình hoạt động NH theo thời gian. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời giúp đánh giá hiệu quả hay giá trị lợi nhuận được tạo ra từ một đồng vốn kinh doanh. Theo thông lệ quốc tế, việc đánh giá khả năng sinh lời của NHTM được thực hiện thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu như sau: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM): đánh giá tỷ suất sinh lời của TSC sinh lãi. NIM = Thu nhập lãi thuần/ Tài sản có sinh lời Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM): đánh giá tỷ suất sinh lời (ngoài lãi) của toàn bộ giá trị TSC.
NNIM = Thu nhập ngoài lãi thuần/ Tài sản có Tỷ suất sinh lời trên tài sản bình quân – ROA: đánh giá khả năng sinh lời của tài sản, thể hiện khả năng chuyển hóa từ giá trị các tài sản thành thu nhập ròng. ROA= Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản bình quân Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân – ROE: đánh giá khả năng sinh lời trong mối quan hệ với vốn chủ sở hữu, đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của NH trong mối tương quan với số vốn bỏ ra ban đầu. ROE= Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu bình quân Lợi tức trên vốn cổ phần – EPS: đánh giá lợi tức của mỗi cổ phiếu đang lưu hành. EPS = Lợi nhuận sau thuế/ Số cổ phiếu đang lưu hành bình quân 8 2.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập – chi phí Nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập - chi phí được sử dụng để đánh giá tính hợp lý của các khoản mục thu nhập, chi phí, đồng thời đánh giá mức hiệu quả hoạt động của NHTM trong việc tối đa hóa thu nhập và cực tiểu hóa chi phí. Việc đánh giá tính phù hợp của thu nhập, chi phí được thực hiện thông qua xem xét các chỉ tiêu: Tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi: đánh giá hiệu quả của hoạt động cho vay trong mối tương quan với hoạt động huy động vốn. Tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi = Chi phí lãi/ Thu nhập lãi Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động: đánh giá hiệu quả của hoạt độngcho vay trong mối tương quan với chi phí hoạt động, phản ánh khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động của NH. Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập = Chi phí hoạt động/ Thu nhập hoạt động Tỷ lệ thu nhập hoạt động trên tổng tài sản: đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, phản ánh mức độ hiệu quả của NH trong việc phân bổ, sử dụng tài sản một cách hợp lý Tỷ lệ thu nhập hoạt động trên tổng tài sản = Thu nhập hoạt động/ Tổng tài sản Năng suất lao động bình quân: đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong việc gia tăng thu nhập của NH.
Năng suất lao động bình quân = Thu nhập hoạt động/ Số CBNV 2.