Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về nuôi con bằng sữa mẹ 1. Khái niệm, lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ là cách để cung cấp cho trẻ nhỏ những dưỡng chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ [45]. Nuôi con bằng sữa mẹ là một hành vi thúc đẩy sức khỏe hết sức quan trọng và mang đến rất nhiều lợi ích cho bà mẹ, trẻ sơ sinh, gia đình và cộng đồng.
Sữa mẹ là thức ăn phù hợp nhất cho trẻ sơ sinh [29], nó là nguồn dinh dưỡng tốt nhất và đầy đủ nhất cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ sơ sinh. Vì vậy, nhiều tổ chức đã khuyến cáo nên bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu [40],[41],[45]. Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc [40], nuôi con bằng sữa mẹ cũng được nói đến là mang lại những lợi ích to lớn cho cả mẹ và con. Đối với lợi ích cho trẻ, nuôi con con bằng sữa mẹ tác động sâu sắc đến sức khỏe, dinh dưỡng và phát triển của trẻ.
Sữa mẹ cũng cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ trong 6 tháng đầu và phòng chống suy dinh dưỡng. Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa, hấp thu đối với trẻ. Sữa mẹ có số lượng protein (đạm) ít hơn sữa động vật vì vậy rất phù hợp với chức năng đào thải khi thận của trẻ chưa trưởng thành. Bên cạnh đó protein trong sữa mẹ chủ yếu là protein dạng lỏng hòa tan, còn gọi là protein sữa (Whey protein) nên phù hợp với khả năng tiêu hóa và hấp thu của trẻ; còn protein trong sữa bò chủ yếu là casein (85%) nên khi vào dạ dày của trẻ nhỏ sẽ tạo thành các cục đông vón làm trẻ khó tiêu hóa và hấp thu, trẻ hay bị rối loạn tiêu hóa.
Whey protein chứa các protein kháng khuẩn giúp trẻ có khả năng chống đỡ lại các bệnh nhiễm khuẩn. Lipid (chất béo) trong sữa mẹ chiếm 50% năng lượng, thành phần acid béo không 5 no nhiều hơn acid béo no. Sữa mẹ có đủ các acid béo cần thiết, giúp cho quá trình hoàn thiện não bộ, võng mạc và làm vững bền mạch máu, như: acid béo không no một nối đôi (acid oleic), acid béo không no đa nối đôi (acid α- linoleic, acid linoleic), tiền tố của DHA (Decosahexaenoic acid) và ARA (arachidonic acid). Trong sữa động vật không có các acid béo này.
Carbonhydrat (glucid và đường) trong sữa mẹ nhiều hơn sữa bò, cung cấp năng lượng, 85% là lactose tăng cường hấp thu calci và 15% là oligosaccharid hỗ trợ cho sự phát triển vi khuẩn có lợi cho trẻ. Sữa mẹ có đủ các vitamin (A, B1, B2, C …), khoáng chất (Calci, phospho …) và các nguyên tố vi lượng (sắt, kẽm, đồng, selen …) đáp ứng đủ nhu cầu trẻ nhỏ, giúp trẻ phòng chống thiếu vi chất và bảo vệ cơ thể chống quá trình oxy hóa [2]. Sữa mẹ còn mang kháng thể từ mẹ giúp trẻ chống đỡ với bệnh tật. Sữa mẹ chứa các tế bào bạch cầu (lympho bào, đại thực bào), globulin miễn dịch (IgA, IgG, IgM), một số yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus Bifidus (Lactose, Oligosaccharid, yếu tố Bifidus), giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, viêm tai, viêm màng não và nhiễm khuẩn tiết niệu.
Sữa mẹ cũng chứa những kháng thể chống các bệnh nhiễm khuẩn mà bà mẹ đã từng mắc bệnh. Khi bà mẹ bị nhiễm khuẩn, các tế bào bạch cầu hoạt động và sản xuất kháng thể để bảo vệ người mẹ, một số tế bào bạch cầu đi tới vú và sản xuất kháng thể tại đó, các kháng thể này được tiết vào sữa để bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn. Vì vậy khi mẹ bị bệnh nhiễm khuẩn thì vẫn có thể cho con bú, không nên cách ly mẹ và con. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (2002), nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển đã chứng minh tỷ lệ mắc tiêu chảy, hô hấp, viêm tai giữa và dị ứng.
ở trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 7 tháng đầu thấp hơn trẻ nuôi hỗn hợp. Kết quả nghiên cứu điều tra ban đầu của dự án Alive & Thrive tiến hành năm 2010 tại 15 tỉnh ở Việt Nam cũng chỉ ra rằng: Trẻ được bú mẹ hoàn toàn 6 trong 6 tháng đầu ít bị tiêu chảy hơn (5,7%) so với trẻ có bú mẹ và ăn thêm các loại thức ăn, đồ uống khác [2]. Bên cạnh đó, bà mẹ cho con bú sẽ tạo ra mối liên hệ đặc biệt giữa mẹ và con. Bà mẹ thường xuyên tiếp xúc, gần gũi con sẽ giúp gắn bó tình cảm mẹ và con, bà mẹ cảm thấy thoải mái tinh thần, yên tâm và giảm được sự lo âu, trầm cảm sau sinh.
Trẻ được tiếp xúc gần gũi mẹ, được âu yếm sẽ ít khóc hơn, cảm giác an toàn hơn, tinh thần, trí tuệ trẻ phát triển tốt hơn. Sự tương tác giữa người mẹ và trẻ trong khi bú có ảnh hưởng tích cực đối với cuộc sống, sự kích thích hành vi, lời nói, hạnh phúc, an toàn và giúp trẻ hiểu làm thế nào để tương tác với những người khác [2]. Phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong của mẹ, cũng như giảm tỷ lệ ung thư vú trước khi mãn kinh và ung thư buồng trứng, loãng xương và bệnh mạch vành [25]. Hành động cho con bú cũng giúp kích thích sự co bóp của tử cung giúp tử cung trở lại trạng thái bình thường như trước khi có thai.
Đồng thời nuôi con bằng sữa mẹ cũng làm giảm và thay đổi quá trình phát triển nang noãn vì vậy nuôi con bằng sữa mẹ với những điều kiện cụ thể là một trong các biện pháp có thể ngăn ngừa sự thụ thai. Đây được gọi là biện pháp cho bú vô kinh [2], [3]. Ngoài ra, nuôi con bằng sữa mẹ còn góp phần bảo vệ sức khoẻ của trẻ trong quá trình trưởng thành: Sữa mẹ bảo vệ trẻ không tăng cân quá mức (thừa cân, béo phì)nhất là trong hai năm đầu đời và giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trưởng thành (tiểu đường, tim mạch, huyết áp …). Do sữa mẹ có các hormone Leptin, Ghrelin, IGF-1 (Insulin Growth Factor 1) tham gia điều chỉnh ăn uống và cân bằng năng lượng [2].
Nuôi con bằng sữa mẹ cũng mang lại những lợi ích rõ rệt cho cộng đồng như: Cho con bú sữa mẹ là hình thức tiết kiệm tiền bạc và thời gian [2]. Trẻ em không được nuôi bằng sữa mẹ có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhiều hơn. Cho con bú sữa mẹ vừa tiện lợi vừa không tốn tiền, trong 7 khi mua sữa bột và những vật dụng cần thiết lại tốn kém. Nuôi con bằng sữa mẹ không gây ảnh hưởng xấu cho môi trường (không thải rác, không thải hóa chất).
Chi phí y tế của bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ sẽ cao hơn. Người mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ sẽ có nguy cơ phải nghỉ làm thường xuyên hơn để chăm sóc cho con vì trẻ không bú mẹ nguy cơ mắc bệnh cao hơn với trẻ được bú mẹ đầy đủ. Theo nghiên cứu của Bartick & Reinhold chỉ ra rằng trẻ sơ sinh bú mẹ sẽ có tác động ý nghĩa đến nền kinh tế Hoa Kỳ. Dự kiến nếu 90% các gia đình ở Hoa Kỳ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, điều này sẽ tiết kiệm được 13 tỷ USD chăm sóc sức khỏe hàng năm [8].
Chính vì những lợi ích rõ rệt của nuôi con bằng sữa mẹ mà tất cả quốc gia trên thế giới đều đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ cho con bú bằng sữa mẹ và cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình y tế quốc gia. Cụ thể là đảm bảo các cơ sở y tế thực hiện trách nhiệm bảo vệ, khuyến khích và hỗ trợ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, tiếp tục cho trẻ bú mẹ đến 2 tuổi hoặc lâu hơn và hướng dẫn các bà mẹ đến các cơ sở y tế khi họ cần [2]. Những bất lợi của việc không nuôi con bằng sữa mẹ Thức ăn thay thế sữa mẹ được chế biến từ nhiều loại sữa khác nhau (sữa động vật, sữa đậu nành và dầu thực vật). Các loại sữa này mặc dù đã được điều chỉnh, chế biến để giống với thành phần sữa mẹ nhưng vẫn không thể hoàn hảo như sữa mẹ.
Vì vậy nuôi trẻ bằng sản phẩm thay thế sữa mẹ, cho trẻ bú bình và vú ngậm nhân tạo sẽ có nhiều bất lợi. Những bất lợi khi nuôi trẻ bằng sản phẩm thay thế sữa mẹ đó là hạn chế gắn bó mẹ và con, giảm mối quan hệ gần gũi yêu thương giữa mẹ và con; trẻ dễ bị tiêu chảy và tiêu chảy kéo dài, do đặc điểm protein trong sữa động vật không phù hợp với khả năng tiêu hóa và hấp thu của trẻ; trẻ dễ bị nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm khuẩn hô hấp, vì thức ăn nhân tạo không có yếu tố kháng khuẩn; trẻ dễ bị dị ứng như 8 chàm, hen suyễn và không dung nạp sữa; trẻ dễ bi suy dinh dưỡng, thiếu vi chất, thiếu vitamin đặc biệt là vitamin A, do trẻ ăn quá ít hoặc sữa quá loãng; trẻ ăn quá nhiều sữa nhân tạo sẽ gây thừa cân, béo phì; trẻ sẽ tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trưởng thành (tiểu đường, tim mạch.); chỉ số thông minh của trẻ thường thấp hơn so với trẻ nuôi bằng sữa mẹ; bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ dễ có thai sớm; dễ có nguy cơ bị thiếu máu sau sinh và tăng nguy cơ mắc ung thư vú, ung thư buồng trứng sau này [2]. Những bất lợi khi cho trẻ bú bình và vú ngậm nhân tạo: bình bú và vú ngậm nhân tạo dễ bị nhiễm khuẩn vì khó vệ sinh làm cho trẻ có nhiều nguy cơ mắc nhiễm khuẩn đường tiêu hóa. trẻ quen với núm vú cao su và vú ngậm nhân tạo nên sẽ từ chối vú mẹ khi cho trẻ bú mẹ.
Vì vậy trẻ sẽ bú ít đi, làm giảm khả năng tạo sữa, dẫn đến bà mẹ sẽ không đủ sữa nuôi trẻ [2]. Việc không nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe mà còn có thể ảnh hưởng tới sự sống của bà mẹ và trẻ sơ sinh. Sữa non hay sữa đầu cung cấp cho trẻ những miễn dịch đầu tiên bằng cách mang những kháng thể cần thiết và các yếu tố phát triển truyền từ mẹ sang con, ngăn ngừa tử vong sớm và bảo vệ trẻ sơ sinh chống lại các bệnh truyền nhiễm.