Chương 1: Giới thiệu khái quát các nội dung chính như sau: lý do hình thành dé tài, mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, phạm vi giới hạn, phương pháp thực hiện dé tài nhằm có cái nhìn tong quan về dé tài trình bảy. Chương 2: Giới thiệu một cách hệ thống hóa các khái niệm phục vụ mục đích nghiên cứu của đề tài: chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng, hiệu quả chuỗi cung ứng, những tác nhân gây ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng. Đồng thời tìm hiểu các mô hình đánh giá hiệu quả chuỗi cung ứng trong thực tế từ đó tìm ra mô hình tối ưu nhất để đánh giá hiệu quả chuỗi cung ứng đang tìm hiểu. Chương 3: Hệ thống hóa những thông tin sẽ sử dụng trong bài, liệt kê đầy đủ nhu cau thông tin cần thiết cho dé tài.
Dua ra quy trình nghiên cứu dé làm rõ các công việc cần thiết phục vụ mục đích của đề tài. Chương 4: Giới thiệu tổng quan về BIGC Đà Lạt và tình hình hoạt động chuỗi cung ứng của công ty. Đánh giá thực trạng chuỗi ung ứng của công ty dựa trên những tiêu chí của mô hình đánh giá được chọn lựa ở chương 2, từ đó đưa ra nhận xét toàn diện về hiệu quả của hệ thống chuỗi cung ứng đang được vận hành tại Siêu thị BIGC Đà Lạt. Chương 5: Xác định những nguyên nhân gây ra tình hình hoạt động kém hiệu quả BIGC Đà Lạt, đồng thời dé xuất những ý kiến nhằm cải thiện chuỗi cung ứng thực tại.
Chương 6: Đúc kết lại nội dung và kết quả đã nghiên cứu được trong bài một cách gan gọn nhất. Nêu lên những hạn chế trong nghiên cứu dé tài và hướng nghiên cứu mới cho đề tài. CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYET GIỚI thiệu một cách hệ thông hóa các khải niệm phục vụ mục dich nghiên cứu của dé tài: chuỗi cung ứng và quan trị chuỗi cung ứng, hiệu quả chuỗi cung ứng, những tác nhân gây ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng. Dong thời tìm hiểu các mô hình đánh giá hiệu quả chuỗi cung ứng trong thực tế từ đó tìm ra mô hình lỗi ưu nhát dé đánh giá hiệu quả chuỗi cung ứng dang tìm hiểu.1 Một số định nghĩa và thuật ngữ trong phân tích chuỗi cung ứng 2.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chuỗi cung ứng: e Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường (Stock & Ellearm, 1998) e Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất va nhà cung cấp, ma còn nha vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hang (Sunil & Meindl, 2001). e Chuỗi cung ứng là một mang lưới các lựa chon sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đôi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng (Ganesham & Harrison, 1995). Việc két hop một cach hệ thống, chiến lược các chức năng kinh doanh truyền thống và sách lược giữa các chức năng kinh doanh đó trong phạm vi một công ty và giữa các công ty trong phạm vi chuỗi cung ứng, nhằm mục đích cải thiện kết quả lâu dai của từng công ty và toàn bộ chuỗi cung ứng. e Chuỗi cung ứng: chuỗi các quá trình kinh doanh và thông tin để cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ thông qua sản xuất và phân phối đến khách hàng cuối cùng (Cox & Blackstone, 1996).
Trong dé tài này, khái niệm chuỗi cung ứng bao gồm 3 thành phân chính : e Cung cấp: nguyên liệu được mua và cung cấp cho việc sản xuất. e San xuât: chuyên đôi các nguyên liệu này thành sản phâm cuôi. e Phan phối: dam bảo các sản phẩm cuối này sẽ được đến tay khách hang cuối thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ. Nhưng do nghiên cứu trong phạm vi hậu cần đến nên thành phần phân phối của chuỗi cung ứng không được đề cập trong luận văn này.2 Khái niệm quan trị chuỗi cung ứng Thuật ngữ “quản lý chuỗi cung ứng” xuất hiện cuối những năm 80 và trở nên phô biến trong những năm 90.
Trước đó, các công ty sử dụng thuật ngữ như “hậu cần” (logistics) và “quản lý các hoạt động” (operations management). Dưới đây là một vài định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng: e Quản lý chuỗi cung ứng: là hoạch định, thiết kế và kiểm soát dong thông tin và nguyên vật liệu của chuỗi cung ứng dé đáp ứng yêu cầu của khách hang một cách hiệu quả nhất ở hiện tại và tương lai (Cox & Blackstone, 1996). e Theo Viện quản trị cung ứng mô ta quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trị cho các tô chức dé đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng. Sự phát triển và tích hợp nguồn lực con người và công nghệ là then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành công (The Institute for supply management, 2000).
e Quản lý chuỗi cung ứng: là sự giám sát nguyên liệu, thông tin, và tai chính khi chúng di chuyến trong một quá trình từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, người bán sỉ, người bán lẻ cho đến khách hàng. Quản lý chuỗi cung ứng gồm việc tích hợp các dòng này cả bên trong cũng như bên ngoài giữa các công ty (N- Chorafas, 2001). e Mục tiêu chính của quan lý chuỗi cung ứng: là tối thiểu những hoạt động không đưa được giá trị vào trong chuỗi. Nó tăng cường khả năng cạnh tranh dựa vào việc nâng cao hiệu suất và giảm chỉ phí (Stewart, 1995).
e Quản lý chuỗi cung ứng: quản lý mọi các hoạt động của chuỗi cung ứng (Wincel, 2004). Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một định nghĩa về chuỗi cung ứng: “Quản lý chuôi cung ứng là sự phôi hợp cua sản xuât, ton kho, địa điêm và van chuyền giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhịp nhàng và hiệu quả các nhu cầu của thị trường. Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả đòi hỏi cải tiễn đồng thời các mức độ dịch vụ khách hàng và tính hiệu quả các hoạt động nội bộ của công ty trong chuỗi cung ứng. Dịch vụ khách hàng ở mức cơ bản nhất có nghĩa là luôn luôn đạt ty lệ đáp ứng đơn đặt hàng cao, tỷ lệ giao hàng đúng thời hạn cao, và tỷ lệ sản phẩm khách hàng trả lại vì bất cứ lý do gì thấp.
Tính hiệu quả trong nội bộ công ty trong một chuỗi cung ứng có nghĩa là các công ty này có tỷ số thu hồi vốn đầu tư vào hàng tồn kho và vào các tài sản khác hap dẫn va họ có cách giảm thiểu các chi phí sản xuất kinh doanh (Nguyễn Công Bình, 2008). Mỗi chuỗi cung ứng đều có một kiểu nhu câu thị trường và các thách thức kinh doanh riêng nhưng các van dé về co bản giống nhau trong từng chuỗi. Các công ty trong bất kỳ chuỗi cung ứng nao cũng phải quyết định riêng va chung trong 5 lĩnh vực sau: e Sản xuất: Thị trường muốn loại sản phẩm nao? Cần sản xuất bao nhiêu loại sản phẩm nào và khi nào? Hoạt động này bao gồm việc lập kế hoạch sản xuất chính theo công suất nhà máy, cân đối công việc, quản lý chất lượng và bảo trì thiết bị e Hang tồn kho: Ở mỗi giai đoạn trong một chuỗi cung ứng cần tồn kho những mặt hàng nào? Cần dự trữ bao nhiêu nguyên liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm? Mục đích trước tiên của hang tồn kho là hoạt đông như một bộ phận giảm sốc cho tinh trang bất định trong chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, việc trữ hàng tồn rất tốn kém, vì thé đâu là mức độ tồn kho và điểm mua bổ sung tối ưu? e Vi trí: Các nhà máy sản xuất và lưu trữ hàng tồn cần được đặt ở đâu? Đâu là vị trí hiệu quả nhất về chỉ phí cho sản xuất và lưu trữ hàng tồn? Có nên sử dụng các nhà máy có sẵn hay xây mới.
Một khi các quyết định này đã lập cần xác định các con đường sẵn có dé đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. e Vận chuyển: Làm thé nào dé vận chuyển hang tôn từ vị trí chuỗi cung ứng này đến vị trí chuỗi cung ứng khác? Phân phối băng hàng không và xe tải nói chung là nhanh chóng va đáng tin nhưng chúng thường tốn kém. Vận chuyển băng đường biển và xe lửa đỡ tốn kém hơn nhưng thường mất thời gian trung chuyển và không đảm bảo. Sự không đảm bảo này cần được bù băng các mức độ trữ hàng tồn cao hơn.
e Thông tin: Phải thu thập bao nhiêu dữ liệu va chia sẻ bao nhiêu thông tin? Thông tin chính xác và kịp thời sẽ giúp lời cam kết hợp tác tốt hơn và quyết định đúng hơn. Có được thông tin tốt, người ta có thể có những quyết định hiệu quả về việc sản xuất cái gì và bao nhiêu, về nơi trữ hàng và cách vận chuyên tốt nhất. Tổng của các quyết định này sẽ xác định công suất và tính hiệu quả của chuỗi cung ứng của công ty. Những gì mà công ty có thể làm và các cách mà nó có thể thực hiện trong thị trường của nó đều phụ thuộc rất nhiều vào tính hiệu quả của chuỗi cung ứng.
Nếu chiến lược của một công ty là phục vụ một thị trường không lồ và cạnh tranh giá trần, tốt hơn hết công ty đó phải có một chuỗi cung ứng được tối ưu hóa với chỉ phí thấp nhất. Công ty là gì và công ty có thể làm gì đều được định hình bởi chuỗi cung ứng và thị trường mà công ty phục vụ (Nguyễn Công Bình, 2008).3 Những tác nhân chính thúc day chuỗi cung ứng Mục tiêu của quản lý chuỗi cung ứng là “tăng thông lượng đầu vao và giảm đồng thời hàng tồn kho va chi phí vận hành”. Thông lượng chính là tốc độ mà hệ thống tạo ra doanh thu từ việc bán cho khách hàng — khách hàng cuối cùng. Tùy thuộc vao thị trường đang được phục vụ, doanh thu hay lượng hàng bán ra có thé khác nhau.
Trong một vài thị trường, khách hàng sẽ chi trả cho mức độ phục vụ cao hơn. Ở một số thị trường, khách hàng đơn giản tìm kiếm các mặt hàng có giá thấp nhất. Như chúng ta biết, có 5 lĩnh vực mà các công ty có thể quyết định nhằm xác định năng lực của chuỗi cung ứng: sản xuất, tồn kho, địa điểm, vận tải và thông tin.