Chương 1 Tổng quan về các phương pháp nghiên cứu ổn định hệ thống điện 1. Các chế độ làm việc của hệ thống điện Định nghĩa ổn định Chế độ của hệ thống điện là tập hợp các quá trình xảy ra trong hệ thống điện và xác định trạng thái làm việc của hệ thống điện trong một thời điểm hay một khoảng thời gian nào đó. Các quá trình trên được đặc trưng bởi các thông số: U, I, P, Q, f, … tại mọi thời điểm của hệ thống điện. Ta gọi chúng là các thông số chế độ, các thông số này khác thông số hệ thống ở chỗ nó chỉ tồn tại khi hệ thống điện làm việc.
Các thông số chế độ xác định hoàn toàn trạng thái làm việc của hệ thống điện. Các thông số này luôn biến đổi theo thời gian, là hàm số của thời gian. Tuỳ theo sự biến đổi của các thông số chế độ theo thời gian, ta chia các chế độ của hệ thống điện thành các loại chế độ sau: Chế độ xác lập là chế độ trong đó các thông số chế độ biến thiên rất nhỏ quanh giá trị trung bình, có thể xem như là hằng số. Có chế độ xác lập bình thường, chế độ xác lập sau sự cố và chế độ sự cố xác lập.
Chế độ xác lập bình thường là chế độ làm việc bình thường của hệ thống điện. Hệ thống điện được thiết kế để làm việc với các chế độ xác lập này. Chế độ xác lập sau sự cố, hệ thống được phục hồi và làm việc tạm thời. Ở CĐXL sau sự cố thông số ít biến thiên nhưng có thể lệch khỏi trị số định mức tương đối nhiều, cần phải nhanh chóng khắc phục.
Ngoài chế độ xác lập còn diễn ra các chế độ quá độ trong hệ thống điện. Đó là các chế độ trung gian chuyển từ chế độ xác lập này sang chế độ xác lập khác. Chế độ quá độ thường diễn ra sau những sự cố hoặc thao tác Học viên: Đào Quang Ngọc - Cao học Hệ Thống Điện Khóa 2005 - 10 - Tổng quan về các phương pháp nghiên cứu ổn định hệ thống điện đóng cắt các phần tử đang mang công suất (những kích động lớn). Chế độ quá độ được gọi là chế độ quá độ bình thường nếu nó tiến đến chế độ xác lập mới.
Trong trường hợp này các thông số hệ thống bị biến thiên nhưng sau một thời gian lại trở về trị số gần định mức và tiếp theo ít thay đổi. Ngược lại, có thể diễn ra chế độ quá độ với thông số hệ thống biến thiên mạnh, sau đó tăng trưởng vô hạn hoặc giảm đến 0. Chế độ quá độ khi đó được gọi là chế độ quá độ sự cố. Nói chung với mọi hệ thống điện yêu cầu nhất thiết là phải đảm bảo cho các chế độ quá độ diễn ra bình thường, nhanh chóng chuyển sang chế độ xác lập mới, bởi chế độ quá độ chỉ có thể là tạm thời, chế độ xác lập mới là chế độ làm việc cơ bản của hệ thống điện.
Từ khái niệm về các chế độ của hệ thống điện có thể thấy rằng điều kiện tồn tại chế độ xác lập gắn liền với sự tồn tại của điểm cân bằng công suất: công suất do các nguồn sinh ra phải bằng công suất do các phụ tải tiêu thụ cộng với công suất tổn thất trong các phần tử của hệ thống điện: PG = PC + ΔP QG = QC + ΔQ Sự cân bằng công suất tác dụng và công suất phản kháng tương ứng với hai chỉ tiêu chất lượng điện năng là tần số và điện áp. Cân bằng công suất tác dụng liên quan chủ yếu đến tần số của HTĐ còn cân bằng công suất phản kháng liên quan chủ yếu đến điện áp ở từng khu vực của HTĐ. Tuy nhiên, trạng thái cân bằng chỉ là điều kiện cần (chưa đủ) của chế độ xác lập. Vì các chế độ trong thực tế luôn luôn bị các kích động từ bên ngoài.
Một chế độ thoả mãn các điều kiện cân bằng công suất muốn tồn tại được trong thực tế phải chịu đựng được các kích động mà điều kiện cân bằng công suất không bị phá vỡ. Các kích động đối với HTĐ được chia ra làm hai loại: các kích động nhỏ và các kích động lớn. Các kích động nhỏ xảy ra liên tục trong thời gian và có biên độ nhỏ, đó là sự biến đổi liên tục công suất trong HTĐ do sự đóng cắt phụ tải và sự Học viên: Đào Quang Ngọc - Cao học Hệ Thống Điện Khóa 2005 - 11 - Tổng quan về các phương pháp nghiên cứu ổn định hệ thống điện làm việc không tốt của các thiết bị điều chỉnh… Các kích động này tác động lên rôto của máy phát điện, phá hoại sự cân bằng công suất ban đầu làm cho chế độ xác lập tương ứng bị dao động. Chế độ xác lập muốn duy trì được thì phải chịu được các kích động nhỏ này, có nghĩa là sự cân bằng công suất phải được giữ vững trước các kích động nhỏ.
Nói đúng hơn là sự cân bằng công suất phải được khôi phục sau các kích động nhỏ. Trong trường hợp này ta nói rằng hệ thống có ổn định tĩnh. Ta có định nghĩa về ổn định tĩnh: Ổn định tĩnh là khả năng của HTĐ, sau khi bị kích động nhỏ, khôi phục lại chế độ làm việc ban đầu hoặc rất gần chế độ làm việc ban đầu (trong trường hợp kích động không được loại trừ). Như vậy ổn định tĩnh chính là điều kiện để một chế độ xác lập tồn tại trong thực tế.
Các kích động lớn xảy ra ít hơn nhiều so với các kích động nhỏ nhưng có biên độ khá lớn, đó là do các biến đổi đột ngột của sơ đồ nối điện, phụ tải và các sự cố như ngắn mạch các loại. Các kích động lớn tác động làm cho cân bằng công suất cơ - điện bị phá vỡ đột ngột, chế độ xác lập tương ứng bị dao động mạnh. Khả năng của hệ thống điện chịu được các kích động này mà chế độ xác lập tương ứng không bị phá vỡ gọi là khả năng ổn định động của hệ thống điện. Vậy ta có định nghĩa ổn định động như sau: Ổn định động là khả năng của HTĐ, sau khi bị kích động lớn, khôi phục lại chế độ làm việc ban đầu hoặc rất gần chế độ làm việc ban đầu (trạng thái vận hành cho phép).
Như vậy ổn định động là điều kiện để cho chế độ của HTĐ tồn tại lâu dài. Ở các nút phụ tải, các kích động nhỏ làm cho điện áp biến đổi. Sự biến đổi điện áp này có thể làm cho cân bằng công suất tác dụng và công suất phản kháng bị phá hoại dẫn đến mất ổn định phụ tải, các động cơ không đồng bộ ngừng làm việc. Khả năng của hệ thống điện chịu được các kích Học viên: Đào Quang Ngọc - Cao học Hệ Thống Điện Khóa 2005 - 12 - Tổng quan về các phương pháp nghiên cứu ổn định hệ thống điện động này mà chế độ làm việc không bị phá hoại gọi là ổn định phụ tải hay ổn định điện áp.
Ta có định nghĩa ổn định điện áp như sau: Ổn định phụ tải là khả năng của HTĐ khôi phục lại điện áp ban đầu hay rất gần ban đầu khi bị các kích động nhỏ ở nút phụ tải. Ta cũng cần chú ý rằng: khi một chế độ nào đó của HTĐ chịu các kích động nhỏ hoặc lớn, nếu HTĐ có ổn định tĩnh hoặc động thì sự cân bằng công suất sẽ được khôi phục, chế độ làm việc được giữ vững. Trong quá trình dao động này, tần số bị lệch khỏi giá trị định mức song độ lệch này quá nhỏ nên tần số được xem là không đổi, chế độ vẫn là chế độ đồng bộ. Ngược lại, nếu hệ thống mất ổn định thì tốc độ góc của rôto lệch xa khỏi tốc độ định mức (tốc độ đồng bộ), HTĐ rơi vào chế độ không đồng bộ.
Trong chế độ không đồng bộ các thông số của chế độ dao động rất mạnh với biên độ lớn. Chế độ không đồng bộ nếu kéo dài dẫn đến hai kết cục: một là, HTĐ bị tan rã hoàn toàn; hai là, chế độ đồng bộ được khôi phục và khi đó ta nói rằng HTĐ có khả năng ổn định tổng quát. Ổn định tổng quát: là khả năng của HTĐ lập lại chế độ đồng bộ sau khi đã rơi vào chế độ không đồng bộ do mất ổn định tĩnh hoặc ổn định động. Các phương pháp và tiêu chuẩn khảo sát ổn định tĩnh hệ thống điện Tồn tại những định nghĩa theo toán học và các tiêu chuẩn đánh giá khác nhau xem một hệ thống vật lý nói chung và hệ thống điện nói riêng có ổn định hay không.
Đầu tiên phải kể đến phương pháp cổ điển nghiên cứu ổn định tĩnh và tiêu chuẩn năng lượng. Việc nghiên cứu tính ổn định của hệ thống vật lý nói chung và hệ thống điện nói riêng theo tiêu chuẩn năng lượng tỏ ra đơn giản, hiệu quả, nhận được kết quả đúng và áp dụng được trong nhiều trường hợp, tuy nhiên chưa đặc trưng đầy đủ cho tính ổn định của hệ thống. Đó là vì khái niệm ổn định cổ điển và tiêu chuẩn năng lượng không xét đến yếu tố quán tính và động năng chuyển động hệ thống, không Học viên: Đào Quang Ngọc - Cao học Hệ Thống Điện Khóa 2005 - 13 - Tổng quan về các phương pháp nghiên cứu ổn định hệ thống điện phát hiện được các hiện tượng mất ổn định do dao động quán tính. Hơn nữa phương pháp cân bằng năng lượng không có cơ sở chặt chẽ về phương pháp để áp dụng đối với hệ thống điện phức tạp.
Tiếp đến là định nghĩa về ổn định của Lyapunov và phương pháp xấp xỉ bậc nhất của ông được áp dụng phổ biến, nhất là để phân tích ổn định tĩnh hệ thống điện có điều chỉnh. Từ phương pháp dao động bé của Lyapunov, xuất hiện nhiều tiêu chuẩn khác nhau cho phép xét dấu nghiệm của phương trình đặc trưng mà không cần giải trực tiếp phương trình. Trong đó tiêu biểu là các tiêu chuẩn đại số Hurwitz, Routh,…, các tiêu chuẩn tần số Mikhailov, Nyquist… Bên cạnh đó là các tiêu chuẩn thực dụng - mặc dù phân tích không hoàn toàn đầy đủ tính ổn định hay không ổn định của hệ thống - nhưng trong nhiều trường hợp, theo các tiêu chuẩn thực dụng thì chỉ bằng những tính toán đơn giản đã có thể kết luận những đặc trưng quan trọng, trong đó phải kể đến khả năng đánh giá sơ bộ độ dự trữ ổn định. Có hai tiêu chuẩn thực dụng được sử dụng phổ biến hơn là tiêu chuẩn mất ổn định phi chu kỳ (tiêu chuẩn Gidanov) và tiêu chuẩn Markovits.