Chương 1 TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cây xanh đô thị 1. Cây xanh công viên Khu cây xanh được trồng tập trung trong một diện tích đất lớn phục vụ cho mục tiêu sinh hoạt ngoài trời cho người dân đô thị vui chơi giải trí, triển khai các hoạt động văn hóa quần chúng, tiếp xúc với thiên nhiên, nâng cao đời sống vật chất và tỉnh thần. Theo Hàn Tất Ngạn (1996) không gian vườn — công viên là khoảng trống lớn nhất trong đô thị và là khoảng trống quan trọng trong vùng miền dành cho các hoạt động nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, đặc biệt là nơi lý tưởng cho việc tố chức lễ hội truyền thống và hiện đại mang tính cộng đồng và giao lưu quần chúng với quy mô rộng và thâm mỹ cho con người và góp phần vào việc hình thành gương mặt đô thị, nông thôn.
Công viên còn là không gian thiên nhiên quan trọng của đô thị trong việc hình thành và cải thiện môi trường. Công viên có nhiều loại, tùy vào chức năng, thể loại và quy mô mà có các loại công viên như: công viên trung tâm, công viên thiếu nhi, công viên sở thú, công viên bách thảo, công viên tưởng niệm, công viên rừng, công viên bảo tồn. Mỗi loại công viên có một vai chức năng chủ đạo biểu hiện tính chất công viên”. Cây xanh đường phố Theo Nghị định 05/VBHN-BXD ngày 13/9/2018 của Bộ Xây Dựng: Quản lý cây xanh đô thị bao gồm: Quy hoạch, trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ và chặt hạ, dich chuyên cây xanh đô thi.
Cây xanh đô thị là cây xanh sử dụng công cộng, cây xanh sử dụng hạn chế và cây xanh chuyên dụng trong đô thị. Cây xanh sử dụng công cộng đô thị là các loại cây xanh được trồng trên đường phố (gồm cây bóng mát, cây trang trí, dây leo, cây mọc tự nhiên, thảm cỏ trồng trên hè phố, dai phân cách, đảo giao thông); cây xanh trong công viên, vườn hoa; cây xanh và thảm cỏ tại quảng trường và các khu vực công cộng khác trong đô thị. Cây xanh sử dụng hạn chế trong đô thị là cây xanh được trồng trong khuôn viên các trụ sở, trường học, bệnh viện, nghĩa trang, các công trình tín ngưỡng, biệt thự, nhà ở và các công trình công cộng khác do các tô chức, cá nhân quản lý và sử dụng. Cây xanh chuyên dụng trong đô thị là các loại cây trong vườn ươm hoặc phục vụ nghiên cứu.
Từ đó cho thấy, quan lý cây xanh đô thị là một lĩnh vực hoạt động phức hop, liên quan đến rất nhiều các đối tượng và ngành nghề khác nhau trong đô thị và đòi hỏi sự hợp tác nhiều tang thứ giữa các bên nhằm dem lại lợi ích tối đa cho người dân đô thị. Quản lý cây xanh đô thị bền vững đảm bảo sự cân bằng các yếu tố về xã hội, kinh tế và môi trường, góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái đô thị thích ứng với những điều kiện mới trong đó, con người là một thành tố quan trọng. Phát triển đa dạng hệ sinh thái đô thị bằng việc sử dụng nhiều loài cây có giá tri thâm mỹ, đa dạng về hình thái và chủng loại giúp thu hút các loài động vật liên quan, nhưng công tác lựa chọn cây đô thị vẫn cần đảm bảo ưu tiên sử dụng các loài cây bản địa hoặc những loài cây đã được thử nghiệm cho kết quả tốt trong thời gian dài. Một số khái niệm về rừng đô thị Theo Clegg (1982) rừng đô thị không những chỉ những cây trồng trên đường phó, mà còn trên các bãi đậu xe, sân trường, các Công viên trung tâm thành phó, cây ven sông rạch, các khu thương mại và khu công nghiệp, nghĩa trang và các trục giao thông.
Rừng đô thị bao gồm mọi loài cây, mọi kích cỡ từ những cây cao to đến những cây bụi, thảm cỏ; từ những cây mọc tập trung đến cây mọc đơn lẽ trên đất công hoặc đất tư. Rừng đô thị có thé được định nghĩa là mạng lưới hoặc hệ thống bao gồm tat cả các rừng cây, các nhóm cây và các cây riêng lẻ nằm trong các khu vực đô thị và vùng ven đô; Do đó chúng bao gồm rừng, cây xanh trên đường phó, cây trong công viên, vườn và cây tự mọc. Rừng đô thị là xương sống của cơ sở hạ tầng xanh, là cầu nối giữa các khu vực nông thôn và thành thị và cải thiện môi trường của thành phố (FAO, 2016). Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.
Tổng quan khoa học về quản lý cây xanh đô thị Quản lý cây xanh đô thị được gắn liền với thuật ngữ “Lâm nghiệp đô thị” hay “Quản lý rừng đô thị”. Khái niệm lâm nghiệp đô thị có nguồn gốc ở Bắc Mỹ trong những năm 1960, Theo Jorgensen (1960), đã giới thiệu các khái niệm này bao gồm giải quyết các vấn đề cây trong thành phó, quản lý cây xanh đô thị, cây thân gỗ và trong toàn bộ khu vực bị ảnh hưởng bởi đô thị hóa, bao gồm cây xanh đường phó, cây xanh công viên, cây xanh tại các khu vực công cộng khác, cây xanh tại vườn nhà riêng và tất cả các mảng xanh tự nhiên còn sót lại trong khu vực này. Theo Edward Lahifff (2018), bảo vệ không gian xanh là khía cạnh sống còn đối với sự phát triển đô thị. Nó tạo ra không gian văn hóa, và giúp bảo vệ môi trường vốn rất cần cho chất lượng cuộc sông.
Không gian xanh trong thành phó rất quan trọng, bởi các thành phố hiện đang chịu nhiều áp lực lớn từ quá trình công nghiệp hóa, mở rộng hệ thống cơ sở hạ tầng và xây dựng nhà ở. Bởi vậy, điều này đòi hỏi các chính quyền địa phương phải ưu tiên việc nhận thức được các giá trị của nó đối với chất lượng sông của cư dân trong thành phố, chứ không phải chi là một tài sản kinh tế. Một số quan điểm về quản lý cây xanh đô thị, theo Phạm Anh Tuấn và Lê Khánh Ly, (2017) quan điểm hệ thống xã hội — hệ sinh thái cây xanh đô thị trong nghiên cứu về quản lý cây xanh đô thị, cơ chế quản lý, hệ thống pháp lý, các chính sách đóng vai trò nòng cốt cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị. Đồng thời, ứng dụng quan điểm này ta có thé thay mối quan hệ tương tác giữa cơ chế quan ly và người sử dụng, đây cũng là tiền đề cho việc xã hội hóa trong công tác quản lý cây xanh đô thị được ứng dụng tại các đô thị hiện đại.
Quan điểm cây xanh đô thị là nguồn tài nguyên dùng chung với những vai trò và vị trí của mình, cây xanh đường phố nói riêng được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng và là một tài nguyên dùng chung và chúng cũng có tính cạnh tranh tốt. Tính cạnh tranh này trong bối cảnh đô thị là kết quả của sự cạnh tranh sử dụng các không gian cây xanh và cạnh tranh ưu đãi về các cây xanh đường phó. Sự gia tăng sử dụng vỉa hè hoặc sự phát triển các công trình xây dựng dẫn đến tính cạnh tranh với các không gian mà cây can phát triển. Cây xanh cũng được đề cập liên quan đến việc đáp ứng với van đề an toàn cộng đồng hoặc khi chúng can thiệp vào các tiện ích công cộng là những giá trị mang tính xã hội và kinh tế.
Từ đó, chúng ta nhận ra tính bền vững giá trị cây xanh đô thị. Đây là nguyên nhân dẫn tới quan điểm phát triển bền vững trong quản lý cây xanh đô thị. Quan điểm quản lý cây xanh đô thị bền vững một hệ thống cây xanh đô thị bền vững phải kết hợp đa dạng sinh học, các loài bản địa, kích thước và tuổi của cây khác nhau. Cộng đồng phải có một tầm nhìn chung về một hệ thống cây xanh đô thị để xác định mục tiêu cụ thể và kế hoạch quản lý và tài trợ chương trình toàn diện cho các mục tiêu cần hoàn thành.
Kết luận quản lý cây xanh đô thị là một lĩnh vực hoạt động phức hợp, liên quan đến rất nhiều đối tượng, ngành nghề khác nhau trong đô thị và đòi hỏi sự hợp tác biện chứng nhiều tầng thứ giữa các bên nhằm đem lại lợi ích tối đa cho người dân đô thị. Hiện trạng công tác quản lý cây xanh 1. Trên thế giới Trên thế giới hiện nay đã có nhiều nghiên cứu liên quan tới van đề cây xanh đô thị và cây xanh đường phó, công tác quản lý và quy hoạch mang xanh đô thị đã được chú trọng nghiên cứu phát triển theo hướng hiện đại, áp dụng tiễn bộ khoa học công nghệ vào công tác quản lý. Một số kinh nghiệm quốc tế về lâm nghiệp đô thị và ven đô (Unasylva, vol 69, 2018/1, FAO): Tại thành phố không gian xanh Malmo, Thụy Điển và Thành phố Berlin, Đức: Với mục tiêu là điều chỉnh sự phát triển đô thị mới theo cách tiếp cận sinh thái.
Một phần diện tích được phát triển sẽ được sử dụng cho không gian xanh, trong đó các thảm thực vật gốc được giữ lại hoặc trồng các lớp phủ thực vật mới. Các hướng dẫn được cung cấp cho quy hoạch và thiết kế cảnh quan, bảo vệ các loài bảo tồn, cho phép các bên liên quan tham gia. Việc cung cấp thảm thực vật ở các khu vực đông dân cư đã làm giảm đáng ké tác động của biến đôi khí hậu. Thành phó Seattle, Mỹ: Xây dựng một mô hình dao đức về quản lý rừng đô thị cho tất cả các bên liên quan.
Thực hiện các cải tiễn cụ thể nhằm đạt được sự gia tăng ròng các chức năng của rừng đô thị và các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Tăng độ che phủ của rừng lên 30%. Tăng cường sức khỏe và tuổi thọ của rừng đô thị, nâng cao chất lượng các loài và loại bỏ các loài xâm lấn. Thành phố Sydney, Úc: Bảo vệ và duy trì các khu rừng hiện có.
Tăng độ che phủ của tán cây. Cải thiện đa dạng sinh học. Nâng cao kiến thức và cam kết trong cộng đồng. Thành phố Umea, Thụy Dién: Rừng trẻ đô thị được tạo ra bằng cách tái sinh rừng trước đó hoặc trồng cây.
Phát triển rừng tái sinh dựa vào các chức năng định trước đồng thời luôn duy trì các biện pháp xử lý rừng cụ thể. Một nghiên cứu thử nghiệm đã được thực hiện ở Umea trên mảnh đất rộng 2,1 ha đã được trồng lại rừng 20 năm trước.