MỞ ĐẦU. Tính cấp thiết của đề tài. Mục tiêu của đề tài. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .1 Tổng quan kết quả nghiên cứu trên Thế giới. Những nghiên cứu về đặc điểm lâm học. Những nghiên cứu về họ Đậu và Lôi khoai lá đỏ. Những nghiên cứu ở Việt Nam.
Những nghiên cứu về đặc điểm lâm học. Những nghiên cứu về họ Đậu và Lôi khoai lá đỏ. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu. Điều kiện tự nhiên.
Điều kiện kinh tế - Xã hội. 23 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng, phạm vi. Đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Công tác chuẩn bị.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Phương pháp điều tra. Phương pháp xử lý số liệu. 32 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.
Đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Lôi khoai lá đỏ. Đặc điểm hình thái. Đặc điểm vật hậu. Đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ.
Cấu trúc tầng thứ. Cấu trúc tổ thành. Cấu trúc mật độ. Đặc điểm phân bố số cây theo đường kính và số cây theo chiều cao của lâm phần có loài Lôi khoai lá đỏ phân bố.
Chỉ số đa dạng loài cây gỗ. Nghiên cứu đặc điểm tầng cây tái sinh và của loài Lôi khoai lá đỏ. Đặc điểm cấu trúc tổ thành. Đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng.
Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao. Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang. Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài Lôi khoai lá đỏ tại khu vực nghiên cứu.
58 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ. Tính cấp thiết của đề tài Lôi khoai, tên khoa học là Gymnocladus angustifolia (Gagn., thuộc phân họ Vang - Caesalpinioideae, họ Đậu - Fabaceae, bộ Đậu - Fabales, lớp Ngọc lan - Magnoliopsida, ngành Ngọc lan – Magnoliophyta. Do cây có lá kép lông chim, dạng như lá cây Lim xanh, nhưng khi non có màu đỏ son chói lọi, nên người ta gọi nó là "Lim lửa". Nhà thực vật học người Pháp Gagnepain xếp nó vào chi Lim xanh - Erythrofloeum (Lim xanh) với tên khoa học là Erythrofloeum angustifolium (Gagn) và từ đó cũng đã có nhiều người gọi là Lim lá thắm, thậm chí là Lim xanh lá thắm.
Khi nhìn màu sắc đỏ thắm của loài cây này từ xa, người ta mường tượng như những cây Phong ở Nhật Bản, Hàn Quốc. hay cây Thích nảy lộc vào xuân ở đỉnh núi Bà Nà. Không ít du khách đã dừng xe, chọn góc nhìn để lấy cho được vài ba kiểu ảnh. Càng chụp cận cảnh, người chụp càng ngạc nhiên.
Bởi khi thoạt nhìn cứ tưởng một vòm hoa nở rộ của một loài cây gì đó, nhưng khi nhìn kỹ qua những tấm hình đặc tả mới hiểu rằng đó là màu lá. Tuyên Quang là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc, nằm ở giữa Tây Bắc và Đông Bắc của Việt Nam. Tổng diện tích đất có rừng Tuyên Quang là 424.689 ha, trong đó rừng tự nhiên là 233.193 ha và rừng trồng là 191. Tỷ lệ che phủ của rừng đạt trên 65,2% (Theo Quyết định số 1423/QĐ-BNN- TCLN/2020).
Có thể nói, về cơ bản rừng tự nhiên Tuyên Quang vẫn còn khá đa dạng về thành phần loài, tuy nhiên những khu rừng có trữ lượng gỗ cao khá hạn chế, đặc biệt những loài cây quý hiếm. Hiện Tuyên Quang vẫn còn hơn 15.378 ha rừng tre, nứa tự nhiên. Trong tổng diện tích rừng trồng có 175.627 ha rừng trồng cho mục đích sản xuất với các loại như: Thông, Mỡ, Bạch đàn, Keo, Bồ đề… Tuyên Quang có khả năng phát triển kinh tế lâm nghiệp, đồng thời phát triển rừng trên diện tích đồi, núi chưa sử dụng khoảng 33. Đặc biệt trong các khu rừng thứ sinh ven đường dọc các tuyến đường thuộc huyện Chiêm Hóa, huyện Lâm Bình, huyện Na Hang có xuất hiện loài Lôi khoai lá đỏ, đặc biệt vào tháng 5-6 hàng năm ở giữa không gian m 2 xanh vời vợi của núi rừng lại điểm một vài chòm đỏ chói sặc sỡ, đó là màu lá lộc của loài cây độc đáo này.
Hiện nay, tỉnh Tuyên Quang đang có kế hoạch xây dựng mô hình trồng loài Lôi khoai lá đỏ ven các cung đường thuộc huyện Chiêm Hóa, Lâm Bình, Na Hang và các khu du lịch sinh thái tạo cảnh quan du lịch đẹp mắt bằng loài Lôi khoai lá đỏ, tạo nên nét đẹp độc đáo, lạ mắt. Xuất phát từ những lý do trên, nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc tạo giống, gây trồng loài Lôi khoai lá đỏ trong các khu du lịch sinh thái, các hành lang đường đặc trưng cho tỉnh Tuyên Quang chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Lôi khoai lá đỏ (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) tại tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu của đề tài - Xác định được một số đặc điểm sinh vật học của loài Lôi khoai lá đỏ. - Xác định được một số đặc điểm lâm học của loài Lôi khoai lá đỏ tại tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất các giải pháp phát triển loài Lôi khoai lá đỏ tại tỉnh Tuyên Quang. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Luận văn nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Lôi khoai lá đỏ, đây là loài còn ít được nghiên cứu nên sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nghiên cứu có liên quan, và là tài liệu tham khảo học tập cho sinh viên và giáo viên ngành lâm nghiệp và các ngành sinh học, sinh thái. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Từ kết quả nghiên cứu về loài Lôi khoai lá đỏ sẽ làm cơ sở khoa học cho các nhà khoa học xác định được đặc tính sinh thái của loài, xác định được thời gian thu hái hạt giống, vùng trồng thích hợp để cho loài này sinh trưởng, phát triển tốt nhất tại tỉnh Tuyên Quang.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan kết quả nghiên cứu trên Thế giới 1. Những nghiên cứu về đặc điểm lâm học Lâm sinh học là những hoạt động tạo lập và nuôi dưỡng rừng hoặc sự áp dụng lý thuyết sinh thái rừng để điều khiển rừng. Lâm sinh học còn được hiểu là lý thuyết và thực hành về kiểm soát sự tạo lập, kết cấu, cấu trúc và tăng trưởng của rừng.
Lâm sinh học tạo lập rừng, nuôi dưỡng rừng có tổ thành loài cây tối ưu, có kết cấu và cấu trúc hợp lý, năng suất cao là nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu về gỗ và những lâm sản khác cho nên kinh tế quốc dân và sinh hoạt của cộng đồng. Các hoạt động của lâm sinh còn góp phần bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ đất và nước, điều hòa khí hậu, bảo vệ và nuôi dưỡng hệ động vật có ích, tạo ra môi trường sống có lợi cho các hoạt động của con người. (Nguyễn Văn Thêm, 2004) Sự thành công trong quản lý rừng bền vững phụ thuộc vào sự hiểu biết về các quá trình xẩy ra trong các hệ sinh thái rừng (HSTR) và các phản ứng của chúng đối với các tác động lâm sinh. Rừng tự nhiên ở Việt Nam đã được quản lý từ hơn 40 năm nay, nhưng những hiểu biết về cấu trúc và các quá trình sinh thái của rừng vẫn còn rất hạn chế.
Trên quan điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng thể hiện rõ nét những mối quan hệ qua lại giữa các thành phần của hệ sinh thái rừng và giữa chúng với môi trường. Việc nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng nhằm duy trì rừng như một hệ sinh thái ổn định, có sự hài hòa của các nhân tố cấu trúc, lợi dụng tối đa mọi tiềm năng của điều kiện lập địa và phát huy bền vững các chức năng có lợi của rừng cả về kinh thế, xã hội và sinh thái. Trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng mưa nhiệt đới nói riêng khá phong phú, đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng, ví dụ nghiên cứu của các tác giả như: Richards P. với các nghiên cứu về tổ thành, dạng sống của thực vật và tầng thứ của rừng.
m 4 Nhiều nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các qui luật cấu trúc như Rollet B (1971), Brung (1970), Loeth et al (1967), Belly (1973),. đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng bằng các dạng phân bố xác xuất, Weibull. Để biểu thị tính đa dạng về loài một số tác giả đã xây dựng các công thức xác định chỉ số đa dạng loài như: Mishra, 1968; Rastogi, 1999 và Sharma, 2003), Curtis & Mclntosh (1950); Phillips (1959); Mishra (1968); Shannon and Wiener (1963), chỉ số mức độ chiếm ưu thế (Concentration of Dominance- Cd) được tính toán theo Simpson (1949); Breugel M. Nghiên cứu hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố.
Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969). Một số nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới như Richards P. Nghiên cứu về đặc điểm lâm học của một số loài cây rừng đã được các tác giả nghiên cứu trong một số công trình khoa học như: Nghiên cứu về loài Vối thuốc của Kebler P. Khatry and Fowler Gary W, 1996).
Như vậy, có thể thấy, trên thế giới việc nghiên cứu về đặc điểm lâm học của rừng khá toàn diện, tuy nhiên những nghiên cứu về đặc điểm lâm học của loài hoặc mối quan hệ giữa các loài trong hệ sinh thái còn khá hạn chế, điều này cũng phần nào dễ hiểu bởi rừng tự nhiên vốn đã rất phức tạp mà mối quan hệ giữa các loài trong đó càng phức tạp hơn. Những nghiên cứu về họ Đậu và Lôi khoai lá đỏ m 5 Lôi khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) thuộc phân họ Vang (Caesalpinioideae), họ Đậu (Fabaceae), bộ Đậu (Fabales), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Về họ Đậu (Fabaceae) Họ Đậu (danh pháp khoa học: Fabaceae) là một họ thực vật. Theo định nghĩa của hệ thống APG thì nó là một họ lớn: Fabaceae sensu lato (nghĩa rộng).