chương 1 Luật Tài nguyên nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012, “Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo”. Nước mặt bao gồm các nguồn nước trong các hồ chứa, sông suối hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Do kết hợp từ các dòng chảy trên bề mặt và thường xuyên tiếp xúc với không khí nên các đặc trưng của nước mặt là: - Chứa khí hòa tan, đặc biệt là oxy. - Chứa nhiều chất rắn lơ lửng (riêng trường hợp nước trong ao hồ, đầm lầy chứa chất rắn lơ lửng và chủ yếu ở dạng keo).
- Có hàm lượng chất hữu cơ cao. - Có sự hiện diện của nhiều loại tảo. n 6 - Chứa nhiều vi sinh vật. * Khái niệm nước ngầm Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong khe nứt, hang cacxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người.
* Khái niệm ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. * Khái niệm tiêu chuẩn môi trường Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014 [8]: “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quang, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường”.
* Khái niệm quy chuẩn kỹ thuật môi trường Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014 [8]: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quang, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường”. Nguồn gốc và chất lượng nước a, Nguồn nước mặt * Nguồn gốc nước mặt Nước mặt là loại nước tồn tại lộ thiên trên mặt đất như sông, suối, hồ đầm,. Nguồn bổ cập cho nước mặt là nước mưa và trong một số trường hợp cả n 7 nước ngầm. Nguồn nước mặt ở nước ta rất phong phú và được phân bổ ở khắp mọi nơi.
Đây là nguồn nước quan trọng được sử dụng vào mục đích cấp nước. * Đặc tính chung của nước mặt - Nước sông: là nguồn chủ yếu để cấp nước. Nước sông có các đặc điểm sau: + Giữa các mùa có sự chênh lệch tương đối lớn về mực nước, lưu lượng, hàm lượng cặn và nhiệt độ nước. + Hàm lượng muối khoáng và sắt nhỏ nên rất thích hợp khi sử dụng cho công nghiệp giấy, dệt và nhiệt điện.
+ Độ đục cao nên xử lý phức tạp và tốn kém. + Nước sông cũng chính là nguồn tiếp nhận nước mưa và các loại nước thải. Vì vậy nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường bên ngoài. So với nước ngầm, nước mặt thường có độ nhiễm bẩn cao hơn.
- Nước suối: đặc điểm nổi bật của nước suối là không ổn định về chất lượng nước, mực nước, lưu lượng, vận tốc dòng chảy giữa mùa lũ và mùa kiệt. Về mùa lũ, nước suối thường đục và có những dao động đột biến về mực nước và vận tốc dòng chảy. Mùa khô nước suối lại rất trong nhưng mực nước lại thấp. - Nước hồ đầm: thường trong, có hàm lượng cặn nhỏ.
Nước hồ đầm thường có vận tốc dòng chảy nhỏ nên rong rêu và các thủy sinh vật phát triển. Điều đó làm cho nước hồ có màu, mùi và dễ bị nhiễm bẩn. b, Nguồn nước ngầm * Nguồn gốc nước ngầm Nước mưa, nước mặt và hơi nước trong không khí ngưng tụ lại thẩm thấu vào lòng đất tạo thành nước ngầm. Nước ngầm được giữ lại hoặc chuyển động trong các lỗ rỗng hay khe nứt của các tầng đất đá tạo nên tầng ngậm nước.
Khả năng ngậm nước của các tầng đất đá phụ thuộc vào độ nứt nẻ. Các n 8 loại đất sét, hoàng thổ không chứa nước. Ở nước ta, một số nơi phát hiện nước ngầm phong phú trong các tầng trầm tích biển, trầm tích sông và trong tầng đá vôi nứt nẻ. *Các trạng thái tồn tại của nước ngầm: + Ở thể khí: cùng với không khí nằm trong các lỗ hổng của đất đá.
+ Ở thể bám chặt: bao quanh các hạt đất bằng một lớp rất mỏng, gắn chật với đất bằng các lực dính, ở điều kiện bình thường không thể tách ra được. + Ở thể màng mỏng: nằm bao quanh các phần tử đất cát bằng lực phân tử, có thể di chuyển trong lòng đất dưới ảnh hưởng của lực phân tử nhưng không thể truyền được áp suất. + Nước mao dẫn: chứa đầy trong các lỗ hổng nhỏ của đất, chịu tác dụng của sức căng mặt ngoài và trọng lực. Nước mao dẫn có thể di chuyển trong đất và có thể truyền được áp suất.
Vùng nước mao dẫn nằm trên mực nước trọng lực. (Nguyễn Thanh Sơn, 2005) [9] + Nước trọng lực hay nước thấm: chứa đầy trong các lỗ hổng của đất, chuyển động dưới tác dụng của trọng lực và có thể truyền được áp suất. Trong các dạng trên chỉ có nước thấm là có trữ lượng đáng kể và có khả năng khai thác được. * Đặc tính chung của nước ngầm Nước ngầm của nước ta được phân bố gần như khắp mọi nơi và nằm ở độ sâu không lớn.
Tầng chứa nước rất dày, trung bình 15 – 30 m, có nhiều nơi tới 50 – 70 m. Do nước ngầm nằm sâu trong lòng đất và được bảo vệ bởi các tầng cản nước nên nước ngầm ở nước ta có chất lượng tốt: hàm lượng cặn nhỏ, ít vi trùng, nhiệt độ ổn định, công nghệ xử lý nước đơn giản nên giá thành sản xuất rẻ. Tùy thuộc vào hóa địa của tầng chứa nước và chất lượng của nguồn bổ cập mà trong tầng nước ngầm thường có hàm lượng muối khoáng lớn, nhất là các muối cứng, nếu dùng để cấp nước cho nồi hơi, thường phải làm mềm. n 9 Đặc điể m nổ i b ật của nước ngầ m là có hà m lươ ̣ng sắ t tư ơng đôi lớn , đặc biệt là sắ t hóa tri ̣hai.
Ở một số vùng, trong tầ ng nước ngầ m còn chứa một lượng mangan đáng kể. Công nghệ xử lý nước ngầ m chủ yế u là khử sắ t , đôi khi kèm theo cả khử mangan, silic,. Vai trò của nước Nước là yếu tố hàng đầu quyết định sự tồn tại và phát triển của sinh giới, không có nước cuộc sống lập tức bị rối loạn, ngưng lại và bị tiêu diệt. Nước chiếm thành phần chủ yếu trong cấu tạo cơ thể thực vật và động vật.
Con người có khoảng 65 – 75 % trọng lượng nước trong cơ thể, cây trên cạn có 50 – 70 % nước, trong rêu và trong các loại thủy sinh vật khác có 95 – 98 % là nước. Muốn có thực phẩm cho người và cho gia súc cần có nước: muốn có 1 tấn lúa mì cần có 300 – 500m3 nước, 1 tấn gạo cần tiêu thụ 1.000m3 nước và để có 1 tấn thịt trong chăn nuôi cần tốn 20. (Lê Anh Tuấn, 2008) [11] Lượng nước trên trái đất là m ột máy điề u hòa nhi ệt và làm cho cán cân sinh thái đươ ̣c cân bằ ng. Sự số ng thường tập trung ở các nguồ n nư ớc, phầ n lớn các nền văn minh, các trung tâm kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, khoa ho ̣c kỹ thuật, văn hóa xã hội dân cu,̛.
đều nằm dọc theo các vùngtập trung nước. Sự thay đổ i cán cân phân phố i nư ớc ho ặc sự phá hoa ̣i nguồ n nư ớc có thể làm tàn lu ̣i các vùng trù phú , biế n các vùng đấ t màu mỡ thành các vùng đấ t khô cằ n. Trong những th ập niên sắ p tới , chiế n tranh xung đột giữa các quố c gia và các vùng khu vực có thể do nguyên nhân tranh giành tài nguyên nước quý báu này. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước a, Ô nhiễm tự nhiên Do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão,.
hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả các xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, n 10 chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm, hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn. Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hóa chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại của các khu phế thải.
Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ thuật bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hóa chất. Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão lũ,.) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu. (Nguyễn Thanh Hải, 2013) [2] b, Ô nhiễm nhân tạo * Từ sinh hoạt : Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan, trường học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người. Thành phần cơ bản của chất thải sinh hoạt là chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbonhydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nito), chất rắn và vi trùng.
Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác nhau. Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao. thải của các cơ sở thương mại, công nghiệp nhỏ trong khu đô thị. Nước thải đô thị thường được thu gom vào hệ thống cống thải thành phố, đô thị để xử lý chung.
Thông thường ở các đô thị có hệ thống cống thải, khoảng 70% đến 90% tổng lượng nước sử dụng của đô thị sẽ trở thành nước thải đô thị và chảy vào đường cống.