Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khai thác khoáng sản là ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng là nguồn phát sinh các tác động môi trường phức tạp, đặc biệt đối với tài nguyên nước mặt và nước ngầm. Tỉnh Cao Bằng nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương, sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú với hơn 250 mỏ và điểm quặng của 22 loại khoáng sản khác nhau như sắt, mangan, thiếc, bauxit, than nâu. Trong đó, Phân xưởng sắt Nà Lũng (trực thuộc Công ty Cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng) đặt tại xóm Nà Lũng, phường Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng là cơ sở khai thác quặng sắt quy mô lớn. Hoạt động khai khoáng lộ thiên và tuyển rửa quặng tại đây đã phát sinh lượng lớn nước thải chứa hàm lượng cao bùn đất, chất rắn lơ lửng và kim loại nặng. Do các công trình hồ lắng cơ học ban đầu không đáp ứng đủ dung tích chứa, cơ sở này từng nằm trong danh sách các điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Nhằm đánh giá mức độ suy giảm ô nhiễm sau khi doanh nghiệp triển khai các công trình khắc phục, đề tài khóa luận tốt nghiệp được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của Phân xưởng sắt Nà Lũng.
  2. Xác định mức độ ô nhiễm và nhận diện các nguồn phát sinh gây ô nhiễm chính đối với môi trường nước.
  3. Đánh giá công tác quản lý, các giải pháp bảo vệ và công trình xử lý môi trường nước mà phân xưởng đã triển khai.
  4. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm nước thải, đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường.

Nghiên cứu đặt ra các yêu cầu: Đánh giá đầy đủ, khách quan chất lượng nước thải; số liệu thu thập phải đảm bảo độ tin cậy và đại diện; các thông số phân tích phải được đối chiếu trực tiếp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành; các giải pháp đề xuất phải phù hợp với điều kiện thực tế của phân xưởng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng chất lượng nước thải sản xuất từ quy trình khai thác, tuyển rửa quặng và các dòng thải liên quan tại mỏ sắt Nà Lũng.
  • Phạm vi không gian: Khu vực khai trường, hệ thống tuyển rửa quặng, chuỗi đập hồ chứa chất thải số 1, 2, 3, 4, 5 và suối Nà Lũng (nguồn tiếp nhận nước thải) thuộc phường Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
  • Địa điểm phối hợp thực hiện: Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng; công tác phân tích mẫu nước thực hiện tại Phòng Phân tích Hóa học - Viện Khoa học Sự sống, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Thời gian nghiên cứu: Thu thập số liệu, khảo sát thực địa và lấy mẫu thực hiện từ ngày 20/01/2014 đến ngày 30/04/2014; kết quả phân tích hoàn thành vào tháng 05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường của Việt Nam:

  • Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
  • Luật Tài nguyên nước năm 2012.
  • Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/04/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
  • Nghị định số 149/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và Nghị định số 34/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.
  • Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước.
  • Quy chuẩn so sánh: QCVN 40:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp (Cột A và Cột B).
  • Quy trình lấy mẫu và phân tích: TCVN 5999-1995 (nước thải - hướng dẫn lấy mẫu), TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-1:2006) và TCVN 6663-3:2008 (ISO 5667-3:2003) về kỹ thuật lấy mẫu, bảo quản và xử lý mẫu nước.

Về mặt lý thuyết chuyên ngành, đề tài làm rõ các đặc trưng lý - hóa - sinh của nước thải mỏ quặng kim loại: độ đục, màu sắc, pH, tổng chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), cùng các ion kim loại nặng độc hại như Fe, Zn, Cu, Pb, Cd, As, Hg, Cr. Khung lý thuyết cũng phân biệt giữa nước thải sản xuất bẩn (nước tuyển rửa cuốn theo bùn đất, khoáng chất mịn, kim loại hòa tan và váng dầu cơ giới) và nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định lượng thực nghiệm và điều tra xã hội học:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tiếp cận Báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Dự án xây dựng công trình đập môi trường số 5; Báo cáo kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 2012; Báo cáo kết quả xử lý ô nhiễm triệt để theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg; số liệu quan trắc định kỳ các sông Bằng Giang, sông Hiến, sông Thể Dục của Trạm Quan trắc Môi trường Cao Bằng.
  • Phương pháp khảo sát và lấy mẫu hiện trường: Lấy mẫu nước thải thực địa bằng bình chứa chuyên dụng có nút đậy (thể tích 596 ml), tuân thủ kiểm soát chất lượng QA/QC. Lấy mẫu tại 3 vị trí trên suối Nà Lũng (nguồn tiếp nhận nước thải sau xử lý của mỏ):
    • Điểm T5-12: Cách nguồn xả thải 300 m.
    • Điểm T5-13: Cách nguồn xả thải 600 m.
    • Điểm T5-14: Cách nguồn xả thải 900 m.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Phân tích 5 chỉ tiêu hóa lý gồm pH, TSS, Fe, Zn, Cu tại Viện Khoa học Sự sống - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu hỏi có cấu trúc để phỏng vấn ngẫu nhiên 30 người dân sinh sống tại xóm Nà Lũng, ghi nhận đánh giá của cộng đồng về mức độ ô nhiễm nước, bùn thải và tác động tới sản xuất nông nghiệp.
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp và so sánh: Phân loại dữ liệu, tính toán tỷ lệ phần trăm và so sánh kết quả nồng độ các chất ô nhiễm với giới hạn tối đa cho phép theo QCVN 40:2011/BTNMT.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày vai trò cốt lõi của tài nguyên nước đối với sự sống và sản xuất; nêu bật thực trạng mâu thuẫn giữa khai thác tài nguyên khoáng sản và yêu cầu bảo vệ môi trường tại tỉnh Cao Bằng. Trình bày chi tiết lý do chọn đề tài nghiên cứu tại Phân xưởng sắt Nà Lũng, xác định rõ 4 mục tiêu, 4 yêu cầu cần đạt và ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn của công trình.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận về nước thải công nghiệp. Khái quát tình trạng ô nhiễm nước trên phạm vi thế giới (dẫn chứng các vụ ô nhiễm tại sông Tamise - Anh, Đại Hồ - Mỹ, thảm họa xyanua tại mỏ Aurul - Rumani năm 2000, sông Huai và sông Hoàng Hà - Trung Quốc, sông Hằng và sông Yamuna - Ấn Độ, sông Citarum - Indonesia) và tại Việt Nam (các lưu vực sông Cầu, hệ thống sông Đồng Nai, sông Nhuệ - Đáy, cụm công nghiệp Tham Lương). Đi sâu phân tích hiện trạng ô nhiễm nước trên địa bàn tỉnh Cao Bằng: thống kê tải lượng nước thải sinh hoạt (gần 9.000 m³/ngày đêm), nước thải công nghiệp (khoảng 3.000 m³/ngày đêm) và nước thải y tế (340 - 500 m³/ngày đêm); trích dẫn diễn biến nồng độ TSS vượt quy chuẩn từ 4 đến 5 lần trên sông Hiến, sông Bằng và sông Thể Dục do hoạt động tuyển khoáng và khai thác cát sỏi.

Phần 3: Đối tượng nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể không gian nghiên cứu tại phường Duyệt Trung, quy mô lấy mẫu nước tại 3 vị trí trên suối Nà Lũng (khoảng cách 300 m, 600 m, 900 m từ nguồn xả), quy chuẩn lấy mẫu theo TCVN 5999-1995, đơn vị phân tích hóa lý và phương pháp điều tra phỏng vấn 30 hộ dân lân cận. Quy định 5 nội dung nghiên cứu tương ứng với kế hoạch thực hiện từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2014.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm, được tác giả triển khai qua các tiểu mục:

  • Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực mỏ: Mỏ sắt Nà Lũng nằm tại tọa độ X=555.3300, địa hình đồi núi chia cắt thoải dần từ Nam lên Bắc (đỉnh cao nhất 460 m ở góc Tây Nam), mạng lưới thoát nước gồm suối Nà Lũng I, II, III và suối Ngọc Pha đổ ra sông Bằng Giang. Khí hậu chia thành 2 mùa: mùa mưa (tháng 5-9, lượng mưa trung bình 200-250 mm/tháng) và mùa khô (tháng 10-4 năm sau, lượng mưa 20-40 mm/tháng). Địa chất thủy văn phân hóa thành 3 tầng chứa nước, trong đó quặng sắt Nà Lũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của tầng chứa nước khe nứt và hang động karst hệ tầng Cacbon - Permi (chiều dài 2,5 km, rộng 20-70 m, dày 20-100 m, đá vôi hoa màu trắng phớt hồng, nước siêu nhạt độ khoáng hóa 0,01-0,08 g/l, pH 7,0-7,3, thuộc loại Bicacbonat - Calci). Phường Duyệt Trung có 616 hộ với 2.327 nhân khẩu phân bố trên 8 xóm, gồm 6 dân tộc (Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Trai).
  • Quy trình công nghệ và nguồn phát sinh chất thải: Mỏ có công suất khai thác 150.000 tấn sản phẩm/năm (70.000 tấn từ khai thác thủ công và 80.000 tấn từ công nghệ tuyển xoắn). Tinh quặng sắt sau tuyển rửa đạt hàm lượng bình quân 60% Fe. Quy trình gồm: dùng máy xúc/gạt bóc tầng đất mặt vận chuyển ra bãi thải rắn -> công nhân nhặt quặng cục thủ công (kích thước đường kính 10-30 cm) -> đất chứa quặng đưa vào hệ thống máy tuyển xoắn rửa bằng nước. Nguồn thải gồm: bụi và khí thải từ máy móc cơ giới; nước thải sinh hoạt (32 m³/ngày đêm, tính theo định mức 400 công nhân, 100 lít/người/ngày, hệ số phát thải 80%); rác thải sinh hoạt (200-240 kg/ngày); chất thải nguy hại (khoảng 333 kg/năm gồm ắc quy, dầu thải, giẻ lau dính dầu); đất đá thải bóc phủ; và nước thải sản xuất tuyển rửa phát sinh khoảng 800 m³/ngày không tuần hoàn được.
  • Đánh giá hiện trạng xử lý chất thải theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg: Trước đây mỏ sử dụng 8 hệ thống tuyển xoắn, phát sinh tới 18.000 m³/ngày nước thải; dung tích các hồ lắng ban đầu (Đập 1: 14.000 m³, Đập 2: 145.000 m³, Đập 3: 562.000 m³) không đủ sức chứa khiến bùn tràn ra suối Nà Lũng. Sau khi bị xử lý theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg, xí nghiệp giảm quy mô xuống 3 hệ thống tuyển xoắn (tuần hoàn lại 9.000 m³/ngày, bổ sung mới 9.000 m³/ngày). Công ty đã đầu tư xây dựng chuỗi đập chắn: gia cố Đập số 3 (dung tích 563.000 m³), nâng cấp Đập số 4 (dung tích 920.000 m³; từng bị bục vào cuối năm 2010), và xây mới hoàn toàn Đập môi trường số 5 (khởi công 5/2011, nghiệm thu 5/2012, dung tích hồ chứa 639.000 m³).
  • Kết quả quan trắc nước thải tại Đập số 5 và suối Nà Lũng: Dữ liệu kiểm soát ô nhiễm năm 2012 cho thấy nước tại đập số 5 đạt QCVN 40:2011/BTNMT Cột B trên toàn bộ 17 chỉ tiêu. Tuy nhiên, kết quả phân tích mẫu thực tế tháng 5/2014 của tác giả tại suối Nà Lũng cho thấy điểm T5-12 (cách nguồn 300 m) có nồng độ Cu, Zn, Fe vượt quy chuẩn Cột B. Càng xa nguồn xả (600 m và 900 m), nồng độ các kim loại này giảm dần về ngưỡng an toàn.
  • Kết quả điều tra xã hội học và giải pháp: Phỏng vấn 30 hộ dân cho thấy ô nhiễm nước là mối bận tâm hàng đầu; hiện tượng bùn đỏ tràn bờ gây bồi lấp đất canh tác lúa tại xóm Nà Lũng. Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp: kỹ thuật hồ lắng bậc thang kết hợp keo tụ phèn nhôm/PAC; gia cố an toàn đập bùn; tuần hoàn nước 100%; hoàn nguyên mỏ; và tăng cường quản lý, giám sát định kỳ.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về hiện trạng nước thải, ghi nhận nỗ lực đầu tư hạ tầng xử lý của doanh nghiệp nhưng chỉ ra nguy cơ ô nhiễm cục bộ vùng hạ lưu nguồn xả; đồng thời đưa ra các đề nghị gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, chính quyền địa phương và Công ty Cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu công bố các kết quả định lượng cụ thể từ hệ thống số liệu thứ cấp và dữ liệu thực nghiệm độc lập:

Thứ nhất, kết quả quan trắc chất lượng nước thải tại Đập môi trường số 5 (theo Báo cáo kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 2012) được tổng hợp qua bảng dưới đây:

TT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Kết quả quan trắc QCVN 40:2011/BTNMT (Cột A) QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B)
1 pH - 8,53 6 - 9 5,5 - 9
2 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) mg/l 5 50 100
3 Nhu cầu oxy hóa học (COD) mg/l 29,2 75 150
4 Xyanua ($CN^-$) mg/l 0,007 0,07 0,1
5 Asen (As) mg/l 0,00098 0,05 1
6 Cadimi (Cd) mg/l 0,00045 0,05 1
7 Thủy ngân (Hg) mg/l 0,00032 0,005 0,01
8 Chì (Pb) mg/l 0,00122 0,1 0,5
9 Sắt (Fe) mg/l 0,05 1 5
10 Mangan (Mn) mg/l 0,5 0,5 1
11 Đồng (Cu) mg/l 0,06 2 2
12 Crom VI ($Cr^{6+}$) mg/l 0,021 0,05 1
13 Crom III ($Cr^{3+}$) mg/l 0,035 0,2 1
14 Kẽm (Zn) mg/l 0,04 3 3
15 Nhiệt độ °C 20,29 40 40
16 Dầu mỡ khoáng mg/l 0,31 5 10
17 Coliform Vi khuẩn/100ml 760 3.000 5.000

Thứ hai, kết quả phân tích mẫu thực nghiệm của tác giả (tháng 05/2014) tại 3 điểm trên suối Nà Lũng tiếp nhận dòng xả:

TT Chỉ tiêu Đơn vị Điểm T5-12 (300 m) Điểm T5-13 (600 m) Điểm T5-14 (900 m) QCVN 40:2011/BTNMT (Cột A) QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B)
1 pH - 6,94 6,21 - 6 - 9 5,5 - 9
2 Đồng (Cu) mg/l 2,51 1,94 1,76 2 2
3 Kẽm (Zn) mg/l 3,16 2,58 2,27 3 3
4 Sắt (Fe) mg/l 6,29 2,76 2,36 1 5

Số liệu thực nghiệm cho thấy tại điểm T5-12 (cách nguồn xả 300 m), nồng độ các kim loại nặng đều vượt giới hạn Cột B của QCVN 40:2011/BTNMT: Cu đạt 2,51 mg/l (vượt ngưỡng 2 mg/l); Zn đạt 3,16 mg/l (vượt ngưỡng 3 mg/l); Fe đạt 6,29 mg/l (vượt ngưỡng 5 mg/l). Tuy nhiên, khi chảy xuôi dòng đến điểm T5-13 (600 m) và T5-14 (900 m), nồng độ các chất giảm mạnh nhờ quá trình tự làm sạch, lắng đọng phù sa và pha loãng tự nhiên, toàn bộ chỉ tiêu tại T5-13 và T5-14 đều nằm trong giới hạn cho phép của Cột B.

Thứ ba, kết quả điều tra xã hội học từ 30 người dân xóm Nà Lũng phản ánh:

  • 83,3% số người được hỏi coi ô nhiễm môi trường nước là vấn đề đáng lo ngại nhất (trong khi ô nhiễm không khí chiếm 10%, tiếng ồn chiếm 6,7%).
  • 76,6% xác định nước thải tuyển rửa là loại chất thải chính gây tác động tiêu cực, tiếp theo là chất thải rắn bóc tầng chiếm 16,6%, bụi khí thải chiếm 6,8%.
  • 60% đánh giá hoạt động khai thác của mỏ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 20% đánh giá ở mức bình thường và 20% đánh giá ít ô nhiễm. Hiện tượng bùn đỏ tràn xuống ruộng lúa trong mùa mưa được 100% hộ dân trồng trọt phản ánh.

Thứ tư, thống kê tiến độ đầu tư các công trình xử lý ô nhiễm triệt để của doanh nghiệp giai đoạn 2003 - 2011 với tổng kinh phí 18.895.000.000 đồng (gần 18,9 tỷ đồng):

Năm Nội dung thực hiện Thành tiền (đồng) Nguồn kinh phí
2003 - 2005 Đắp đập lọc thân quặng 3A 643.471.000 Công ty CP Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng
2006 Thi công đập số 4 600.725.000 Công ty CP Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng
2006 Xử lý nâng cấp đập số 4 641.462.000 Công ty CP Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng
2007 Nâng cấp đập số 4 596.500.000 Công ty CP Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng
2008 Nạo vét lòng hồ đập số 4 69.710.000 Công ty CP Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng
2009 - 2011 Nâng cấp đập 3, 4 và xây dựng công trình đập môi trường số 5 16.000.000.000 Quỹ bảo vệ môi trường của Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam
Tổng cộng 18.895.868.000

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp chuỗi số liệu thực địa khách quan, đối chiếu giữa báo cáo thẩm định của cơ quan chức năng với chất lượng nước suối thực tế sau các đập lắng. Nghiên cứu chỉ rõ dù nước thải tại cửa đập số 5 đạt quy chuẩn xả thải tại thời điểm quan trắc năm 2012, dòng suối tiếp nhận trong bán kính 300 m vẫn có hiện tượng tích tụ kim loại nặng Cu, Zn, Fe vượt chuẩn vào năm 2014, làm cơ sở thực tế cho các bên liên quan điều chỉnh quy trình xử lý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa chỉ kéo dài từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2014, trùng vào mùa khô ở khu vực Đông Bắc; chưa thu thập và phân tích được chất lượng nước thải trong các tháng mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 9) - thời điểm lưu lượng dòng chảy tràn và nguy cơ xói mòn bùn đập đạt mức cao nhất.
  • Đợt lấy mẫu thực địa chỉ tiến hành tại 3 vị trí trên suối tiếp nhận và số lượng chỉ tiêu phân tích trực tiếp dừng lại ở 5 thông số cơ bản (pH, TSS, Fe, Zn, Cu); chưa tiến hành phân tích mở rộng đối với các kim loại nặng độc hại khác như As, Cd, Hg, Pb trong các mẫu nước năm 2014.
  • Dung lượng mẫu điều tra xã hội học còn hạn chế (30 hộ dân tại một xóm Nà Lũng), chưa bao quát toàn bộ các cụm dân cư hạ lưu dọc theo hệ thống suối Ngọc Pha và lưu vực sông Bằng Giang.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quan trắc chất lượng nước thải và nước mặt suối Nà Lũng theo chu kỳ các mùa trong năm (mùa mưa và mùa khô) để so sánh biên độ dao động nồng độ chất ô nhiễm.
  • Phân tích sự tích lũy của kim loại nặng trong mẫu đất canh tác nông nghiệp và trầm tích đáy suối tại các khu vực bị bồi lắng bùn đỏ.
  • Nghiên cứu thực nghiệm giải pháp xử lý hóa lý (sử dụng chất keo tụ PAC hoặc phèn nhôm kết hợp chất trợ lắng polymer) để nâng cao tốc độ lắng hạt mịn quặng sắt trước khi xả ra hồ chứa.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Địa chất công trình khi thực hiện các đồ án, khóa luận về đánh giá tác động môi trường hoặc xử lý nước thải ngành công nghiệp khai khoáng.
  • Cán bộ kỹ thuật và quản lý môi trường tại các doanh nghiệp khai thác mỏ kim loại, đặc biệt là tài liệu tham khảo thực tế về cấu tạo hình học, dung tích hồ lắng và kinh phí thi công chuỗi đập bùn thải (từ đập số 1 đến đập số 5).
  • Các cơ quan quản lý nhà nước như Chi cục Bảo vệ Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Cao Bằng trong công tác giám sát, hậu kiểm đối với các cơ sở thuộc danh mục Quyết định 64/2003/QĐ-TTg.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao trong văn bản bao gồm: Sơ đồ quy trình công nghệ khai thác - tuyển rửa kết hợp thủ công và cơ giới; bảng tổng hợp tiến độ và chi phí gia cố hệ thống đập; cùng các số liệu đối chiếu chất lượng nước thải theo QCVN 40:2011/BTNMT.

Câu hỏi thường gặp

Phân xưởng sắt Nà Lũng sử dụng công nghệ khai thác và tuyển rửa quặng nào?

Phân xưởng áp dụng công nghệ khai thác lộ thiên kết hợp cơ giới và thủ công. Sau khi dùng máy ủi, máy xúc bóc tầng đất mặt và làm tơi gương tầng, công nhân nhặt thủ công quặng cục có đường kính từ 10 cm đến 30 cm (cho sản lượng khoảng 70.000 tấn/năm). Đất chứa quặng mịn được chuyển vào hệ thống tuyển xoắn cơ giới rửa bằng nước để làm sạch đất đá (cho sản lượng khoảng 80.000 tấn/năm), cho ra tinh quặng sắt thương phẩm có hàm lượng Fe trung bình đạt 60%.

Vì sao Phân xưởng sắt Nà Lũng bị đưa vào danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg?

Nguyên nhân chính là do trước đây phân xưởng vận hành đồng thời 8 hệ thống tuyển xoắn, phát sinh lượng nước thải lên tới 18.000 m³/ngày đêm chứa hàm lượng bùn đất và TSS rất cao. Trong khi đó, dung tích các hồ chứa bùn tạo bởi đập chắn số 1, 2 và 3 (tổng thể tích ban đầu chỉ đạt 721.664 m³) không đủ khả năng lưu chứa và lắng đọng chất thải, dẫn tới tình trạng bùn thải và nước đục xả tràn trực tiếp ra suối Nà Lũng.

Doanh nghiệp đã đầu tư những công trình gì để khắc phục ô nhiễm triệt để và tổng kinh phí là bao nhiêu?

Giai đoạn 2003 - 2011, doanh nghiệp đã giảm quy mô hoạt động xuống còn 3 hệ thống tuyển xoắn (áp dụng quy trình tuần hoàn lại 9.000 m³/ngày nước thải), tiến hành đắp đập 3A, nâng cấp gia cố đập số 3 (dung tích 563.000 m³), đập số 4 (dung tích 920.000 m³), và xây mới hoàn toàn Đập môi trường số 5 (dung tích 639.000 m³ hoàn thành tháng 12/2012). Tổng kinh phí thực hiện nâng cấp và xây mới hệ thống đập là 18.895.868.000 đồng, huy động từ nguồn vốn doanh nghiệp và Quỹ bảo vệ môi trường của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam.

Chất lượng nước thải tại Đập số 5 và nguồn tiếp nhận suối Nà Lũng có đạt quy chuẩn không?

Tại hồ chứa Đập môi trường số 5, kết quả phân tích năm 2012 đối với 17 chỉ tiêu hóa lý, kim loại và vi sinh đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT Cột B (trong đó TSS chỉ đạt 5 mg/l, COD đạt 29,2 mg/l, Fe đạt 0,05 mg/l). Tuy nhiên, kết quả phân tích thực tế năm 2014 trên suối Nà Lũng cho thấy tại điểm T5-12 cách nguồn xả 300 m, hàm lượng kim loại Cu (2,51 mg/l), Zn (3,16 mg/l) và Fe (6,29 mg/l) đều vượt ngưỡng quy chuẩn Cột B. Các chỉ tiêu này chỉ giảm về dưới ngưỡng cho phép khi dòng chảy di chuyển cách nguồn thải từ 600 m đến 900 m.

Người dân xóm Nà Lũng phản ánh những ảnh hưởng môi trường cụ thể nào?

Qua khảo sát 30 hộ dân tại xóm Nà Lũng, 83,3% ý kiến lo ngại nhất về ô nhiễm nguồn nước và 60% đánh giá tình trạng ô nhiễm ở mức nghiêm trọng. Vấn đề thực tế ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống là hiện tượng bùn đỏ từ khu vực khai trường và đập thải bị nước mưa cuốn trôi xuống bồi lấp ruộng canh tác nông nghiệp, làm ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất và sự phát triển của cây lúa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Điệp đã phản ánh chi tiết hiện trạng môi trường nước thải và quy trình khai thác, tuyển rửa quặng tại Phân xưởng sắt Nà Lũng thuộc Công ty Cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng. Nghiên cứu đã làm rõ lịch sử đầu tư chuỗi đập chắn hồ lắng số 1 đến số 5 với tổng mức kinh phí gần 18,9 tỷ đồng theo yêu cầu của Quyết định 64/2003/QĐ-TTg, ghi nhận sự cải thiện chất lượng nước tại đập số 5 nhưng đồng thời chỉ ra sự tồn lưu nồng độ kim loại nặng (Cu, Zn, Fe) vượt quy chuẩn trong phạm vi 300 m đầu nguồn suối Nà Lũng. Các số liệu phân tích hóa học và điều tra cộng đồng trong khóa luận cung cấp luận cứ thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý, giám sát xả thải và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải mỏ khoáng sản trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.