Đặt vấn đề Thành phố Lạng Sơn là tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn, có diện tích khoảng 79 km. Thành phố nằm bên quốc lộ 1A, cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc 2 18km, cách Hữu Nghị Quan 15 km về phía Đông Bắc. Lạng Sơn là thành phố trẻ, thành phố thương mại là đầu mối với cửa khẩu đang trên đà phát triển sôi động, là cửa ngõ giao lưu kinh tế - văn hóa của cả nước với đất nước Trung Quốc và các nước Đông Âu, là địa bàn quan trọng có mối quan hệ mật thiết với vùng tam giác kinh tế trọng điểm của miền Bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Thành phố Lạng Sơn có 5 phường trung tâm và 3 xã ngoại thành.
Là thành phố miền núi biên giới, nhưng có tốc độ đô thị hóa cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội phát triển mạnh. Bởi vậy, thành phố thu hút nhiều lao động, dân cư đô thị. Nhu cầu về sử dụng nguồn nước ngày càng lớn vấn đề bảo vệ môi trường cần phải đặt ra và cấp thiết. Sông Kỳ Cùng là con sông chính ở tỉnh Lạng Sơn, có dộ dài khoảng 243 km, diện tích lưu vực 6660 km2, chảy sang Trung Quốc và là một chi lưu của sông Tây Giang.
Bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1166 m thuộc huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn, sông này thuộc lưu vực sông Tây Giang (Trung Quốc). Dòng sông chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc qua thành phố Lạng Sơn. Cách thành phố khoảng 22 km về phía Tây Bắc, dòng sông đổi hướng để chảy gần như theo hướng Nam - Bắc tới thị trấn Văn Lãng rồi lại đổi hướng thành Đông Nam - Tây Bắc trước khi rẽ sang hướng Đông ở thị trấn Thất Khê. Từ thị trấn Thất Khê, dòng sông chảy gần như theo đường vòng cung, đoạn đầu theo hướng Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam tới Bi Nhi, từ đây vượt biên giới sang Trung Quốc.
Sông có độ dài đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn là 19 km, rộng trung bình 100m, lưu lượng trung bình dưới 2300 m3/s. Sông Kỳ Cùng lấy nước sinh hoạt, tưới tiêu mùa màng. Do đó, nghiên cứu về hiện trạng môi trường nước sông Kỳ Cùng là hết sức cần thiết, nhằm cụ thể hóa các giải pháp về quản lý lưu vực, quản lý việc n 2 xả thải ra sông, tuyên truyền giáo dục để nâng cao ý thức của mọi người dân, nhất là khi quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh, nhằm phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.s Nguyễn Đình Thi, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng”.
Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn. - Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn. Yêu cầu của đề tài - Điều tra thu thập thông tin, phân tích để xác định các nguồn, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt. - Số liệu phản ánh trung thực, khách quan.
- Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước phải chính xác. - Những kiến nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. - Bổ sung tư liệu cho học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Phản ánh hiện trạng về môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn.
- Là cơ hội giúp ta biết triển khai một đề tài khoa học,cách viết báo cáo. - Là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu khoa học. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở lý luận Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người. Nước là thành phần quan trọng làm nên và duy trì sự sống trên Trái đất. Nước tham gia vào hầu hết các ngành, các lĩnh vực của đời sống con người. Chính vì vai trò rất quan trọng của nước nên con người đã xếp nước vào một trong những loại tài nguyên cùng với tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự gia tăng dân số khá nhanh.
Con người ngày càng tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước, điều này đã làm cho tài nguyên nước có nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm ngày càng nặng. Vì vậy, phải sớm có những biện pháp quản lý phù hợp. * Một số khái niệm liên quan ♦ Định nghĩa về môi trường: Theo khoản 1 điều 3, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 của Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [10]. ♦ Tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 5 điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005: “Tiêu chuẩn môi trường là những giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường” [10].
♦ Ô nhiễm môi trường: Theo khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” [10]. ♦ Ô nhiễm nước: Theo hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã” [8]. n 4 ♦ Ô nhiễm nguồn nước: “Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép ” (Dư Ngọc Thành, 2009) [12]. ♦ Nước Mặt: Theo khoản 2 điều 3 Luật Tài nguyên nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/5/1998, “Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo” [9].
♦ Chất thải: Theo khoản 10 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005, “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra ngoài từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” [10]. ♦ Quan trắc môi trường: Theo khoản 17 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, “Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường” [10]. * Đánh giá chất lượng nước Theo Escap (1994) [13], chất lượng nước được đánh giá bởi các thông số, chỉ tiêu cụ thể đó là: - Các thông số lý học, ví dụ như: + Nhiệt độ: Nhiệt độ tác dộng tới quá trình sinh hóa diễn ra trong nguồn nước tự nhiên. Sự thay đổi về nhiệt độ nước sẽ kéo theo các thay đổi về chất lượng, tốc độ, dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hòa tan.
+ pH: Là chỉ số thể hiện độ axit hay bazơ của nước, là yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và giới hạn phát triển của vi sinh vật trong nước. Trong lĩnh vực cấp nước, pH là yếu tố phải xem xét trong quá trình đông tụ hóa học, sát trùng, làm mềm nước và kiểm soát sự ăn mòn. Trong hệ thống xử lý nước thải bằng các quá trình sinh học thì pH phải được khống chế trong phạm vi thích hợp đối với các loại vi sinh vật có liên quan. - Các thông số hóa học, ví dụ như: + BOD (Biochemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy sinh hóa): Là lượng oxy cần thiết cung cấp để vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian.
n 5 + COD (Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa học): Là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóa học trong nước. + NO3-: Là sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy các chất chứa nitơ trong nước thải. + Các yếu tố kim loại nặng: Các kim loại nặng là những nguyên tố mà tỷ trọng của chúng bằng hoặc lớn hơn 5 như Asen, Cadimi, Fe, Mn, … ở hàm lượng nhỏ nhất cần cho sự phát triển và sinh trưởng của động, thực vật, nhưng khi hàm lượng tăng thì chúng sẽ trở thành độc hại đối với sinh vật và con người thông qua chuỗi mắt xích thức ăn. - Các thông số sinh học như: Coliform: Là nhóm vi sinh vật quan trọng chỉ thị, môi trường, xác định mức nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nước.
Cơ sở thực tiễn Để đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên hàng năm, Trung tâm quan trắc môi trường tỉnh Lạng Sơn đều tiến hành quan trắc và đánh giá hiện trạng môi trường trên toàn tỉnh. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006. - Luật Tài nguyên nước 2012 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/06/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. - Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về một số điều của luật BVMT.
- Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVMT. - Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.