Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động khai thác khoáng sản đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, các hoạt động mở mỏ, khai thác lộ thiên, bóc tầng đất đá và chế biến quặng kim loại cũng tạo ra những áp lực nghiêm trọng lên môi trường tự nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất và nguồn nước. Tại tỉnh Thái Nguyên, sự tập trung của nhiều mỏ khoáng sản với công nghệ khai thác còn thô sơ hoặc quy mô lớn đã làm thay đổi địa hình, thu hẹp diện tích đất canh tác, gây suy giảm mực nước ngầm và ô nhiễm môi trường sinh thái.

Xã Hà Thượng, huyện Đại Từ là địa bàn miền núi tập trung nhiều dự án khai khoáng quy mô lớn, tiêu biểu là Mỏ đa kim Núi Pháo, các mỏ than, mỏ sắt và thiếc. Quá trình giải phóng mặt bằng, vận hành khai thác và xả thải tại khu vực này đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất nông nghiệp, làm biến động sâu sắc diện tích đất sản xuất và suy thoái chất lượng nguồn nước sinh hoạt của người dân. Trước thực tế đó, đề tài khóa luận "Đánh giá hiện trạng môi trường đất nông nghiệp và nước ngầm xung quanh vùng khai thác khoáng sản xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" được tác giả Đinh Thị Ngân Hạnh thực hiện nhằm khảo sát, phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp xử lý.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường đất nông nghiệp và môi trường nước ngầm xung quanh vùng khai thác khoáng sản xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Đánh giá tác động của việc khai thác khoáng sản đến môi trường đất nông nghiệp và môi trường nước ngầm.
  3. Đề ra các biện pháp khắc phục, xử lý nhằm giải quyết các vấn đề môi trường tại địa phương.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu của đề tài bao gồm việc điều tra thu thập thông tin, xác định các nguồn và yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đất và nước ngầm; đảm bảo số liệu phản ánh trung thực, khách quan; cảnh báo các vấn đề cấp bách và nguy cơ tiềm tàng về suy thoái môi trường; đồng thời xây dựng các kiến nghị có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Môi trường đất nông nghiệp và một số chỉ tiêu chất lượng đất; môi trường nước ngầm và các chỉ tiêu chất lượng nước ngầm; cùng các hoạt động khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp và dân sinh ảnh hưởng đến hai nguồn tài nguyên này.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu tập trung trên địa bàn xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Thời gian và địa điểm thực hiện: Đề tài được triển khai thực tập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong khoảng thời gian từ ngày 25/01/2014 đến ngày 25/04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết tổng quan về đặc điểm tài nguyên khoáng sản, các hình thức khai khoáng (khai thác lộ thiên, hầm lò) và các giai đoạn vận hành mỏ (mở cửa mỏ, khai thác, đóng cửa mỏ). Đi kèm với đó là lý luận về tài nguyên đất nông nghiệp, các kiểu thoái hóa đất (phèn hóa, laterit hóa, xói mòn, ô nhiễm hóa học) và các chỉ số đánh giá mức độ nhiễm bẩn của đất thông qua hàm lượng hợp chất nitơ, muối clo, kim loại nặng và chỉ số vệ sinh (tỷ số giữa nitơ anbumin và nitơ hữu cơ). Về tài nguyên nước, văn bản tổng quan cơ chế bổ cấp - trữ lượng của nước ngầm, các xu hướng thay đổi chất lượng nước khi bị ô nhiễm (suy giảm pH, gia tăng hàm lượng ion kim loại, giảm oxy hòa tan DO, gia tăng các chỉ số COD, BOD5, ô nhiễm vi sinh vật coliform).

Hệ thống cơ sở pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng trong công trình gồm có:

  • Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
  • Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/06/2012;
  • Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 17/11/2010;
  • Nghị định số 21/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP;
  • Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
  • Quyết định số 769/2009/QĐ-BTNMT ngày 24/04/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
  • Các Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia: QCVN 03:2008/BTNMT (giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất), QCVN 08:2008/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 09:2008/BTNMT (chất lượng nước ngầm), QCVN 40:2011/BTNMT (nước thải công nghiệp), QCVN 01:2009/BYT (chất lượng nước ăn uống);
  • Các Tiêu chuẩn Quốc gia về lấy mẫu và phân tích: TCVN 5992:1995, TCVN 5993:1995, TCVN 5994:1995, TCVN 5996:1995, TCVN 7538-2:2005, TCVN 7538-4:2007, TCVN 6498:1999 (xác định nitơ tổng số theo phương pháp Kjeldahl cải biên), TCVN 8940:2011 (xác định phospho tổng số bằng phương pháp so màu).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập thông tin được triển khai qua các hợp phần:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Kế thừa và sử dụng các báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), báo cáo kết quả quan trắc môi trường năm 2013 của Mỏ đa kim Núi Pháo, số liệu kiểm kê đất đai, tài liệu quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Hà Thượng.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn xã hội học: Tiến hành điều tra ngẫu nhiên 50 hộ gia đình sinh sống xung quanh khu vực khai khoáng trên địa bàn xã bằng bộ phiếu câu hỏi có cấu trúc sẵn.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát hiện trường, ghi nhận các nguồn phát thải, hiện trạng bãi thải đất đá, hệ thống thoát nước và dấu hiệu cảm quan môi trường.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm: Lấy mẫu tại thực địa ngày 09/03/2014 và phân tích các chỉ tiêu lý - hóa tại Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Bảng thông tin vị trí lấy mẫu đất và nước trong nghiên cứu:

Ký hiệu Loại mẫu Vị trí lấy mẫu Thời gian lấy Chỉ tiêu phân tích
MĐ-01 Đất trồng cây lâu năm Nhà ông Nguyễn Văn Chúc, xóm 2, xã Hà Thượng 14h30, 09/03/2014 pH, OM, Đạm tổng số, Lân tổng số, Pb, Zn
MĐ-02 Đất trồng rau màu Nhà ông Tạc Văn Hợp, xóm 6, xã Hà Thượng 15h00, 09/03/2014 pH, OM, Đạm tổng số, Lân tổng số, Pb, Zn
MN-01 Nước thải sau xử lý mỏ Núi Pháo Khu vực Khe Vối, giáp ranh xóm 3 và xóm 4 15h30, 09/03/2014 pH, COD, BOD5, Pb, Zn, Fe
MN-02 Nước ngầm (giếng đào) Nhà bà Phạm Thị Tính, xóm 3, xã Hà Thượng 15h45, 09/03/2014 pH, COD, BOD5, Pb, Zn, Fe

Kỹ thuật phân tích: Chỉ tiêu pH được đo trực tiếp tại hiện trường bằng thiết bị đo chuyên dụng diện rộng để hạn chế sai số bảo quản; hàm lượng chất hữu cơ (OM), lân tổng số, COD, BOD5 được xác định bằng phương pháp chuẩn độ và so màu quang phổ; đạm tổng số được xác định theo phương pháp Kjeldahl cải biên.

  • Phương pháp so sánh, tổng hợp và đối chiếu: Phân tích định tính (màu, mùi, độ đục, lớp váng) và định lượng (so sánh đối chiếu nồng độ các chất phân tích với các giới hạn quy định tại QCVN 03:2008/BTNMT, QCVN 08:2008/BTNMT, QCVN 09:2008/BTNMT, QCVN 40:2011/BTNMT và QCVN 01:2009/BYT).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Chương này thiết lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ xung đột giữa hoạt động phát triển kinh tế khoáng sản và nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái. Tác giả phân tích các tác động tiêu cực điển hình của khai thác mỏ tại vùng trung du miền núi, nhấn mạnh đất nông nghiệp và nước ngầm là tư liệu sản xuất và sinh hoạt thiết yếu bị đe dọa trực tiếp. Mục tiêu, yêu cầu và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài được xác lập làm định hướng xuyên suốt quá trình nghiên cứu tại xã Hà Thượng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Phần tổng quan hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành về phân loại khoáng sản, tính chất thổ nhưỡng, nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên đất (tự nhiên và nhân tạo), tác nhân gây ô nhiễm nước (vật lý, hóa lý, hóa học vô cơ/hữu cơ, sinh học). Chương này cập nhật hiện trạng tài nguyên đất và nước tại Việt Nam cũng như trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Văn bản ghi nhận tỉnh Thái Nguyên có 156 mỏ được cấp phép khai thác, chủ yếu áp dụng phương pháp lộ thiên, bóc tầng tạo moong sâu và đổ thải bãi cao làm biến dạng địa hình. Các số liệu trích dẫn cho thấy đất ruộng gần Khu công nghiệp Sông Công có hàm lượng Zn vượt 8,9 lần, Cd vượt 11 lần; tại Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên có Pb vượt 2,8 lần, Zn vượt 46,6 lần. Các bãi thải đất đá mỏ sắt Trại Cau thải gần 2 triệu m3/năm, mỏ than Khánh Hòa gần 3 triệu m3/năm, mỏ than Phấn Mễ hơn 1 triệu m3/năm. Đáng chú ý, kết quả quan trắc nước mặt các mỏ khoáng sản kim loại của Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên cho thấy 72,3% số mẫu vượt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (với các chất As, Cd, Pb, Zn, Fe); 30% mẫu nước ngầm vượt QCVN 09:2008/BTNMT (chỉ tiêu pH, Cd, Mn); và 83,3% mẫu nước thải vượt QCVN 24:2009/BTNMT từ 1,05 đến 435,5 lần.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày chi tiết địa điểm, thời gian thực hiện, giới hạn không gian - thời gian nghiên cứu tại xã Hà Thượng và quy trình kỹ thuật. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp điều tra 50 phiếu phỏng vấn ngẫu nhiên, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, định vị tọa độ và hoàn cảnh lấy 2 mẫu đất (MĐ-01, MĐ-02) và 2 mẫu nước (MN-01, MN-02), cùng các tiêu chuẩn quốc gia hướng dẫn phân tích các thông số ô nhiễm trong phòng thí nghiệm.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả và thảo luận tập trung phản ánh các nhóm nội dung chính:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã Hà Thượng có diện tích tự nhiên 1.522,01 ha gồm 13 xóm. Địa hình đồi núi thấp (100 - 200m), vùng núi chiếm 292 ha (9,75%), đất bằng chiếm 486 ha (16,23%). Nhiệt độ trung bình năm 24,5°C, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11 chiếm 80% lượng mưa cả năm. Xã không có sông lớn, chỉ có 3 hệ thống khe suối bắt nguồn từ dãy Núi Pháo chảy dọc địa bàn khoảng 10 km và các ao đầm nhỏ (khoảng 7,8 - 9,4 ha). Dân số toàn xã có 1.235 hộ với 7 dân tộc anh em; lực lượng trong độ tuổi lao động có 3.200 người (lao động nông nghiệp chiếm 35%, dịch vụ - thương mại chiếm 30%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 35%).

  2. Hoạt động khai khoáng: Trên địa bàn có 5 doanh nghiệp khai khoáng lớn hoạt động:

    • Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên: Khai thác Mỏ than Làng Cẩm, Phấn Mễ theo Giấy phép số 64/TTg ngày 10/03/1988 (không thời hạn), trữ lượng 3.200 tấn, công suất 60.000 tấn/năm.
    • Công ty An Phát Thái: Mỏ than xóm 11 theo Giấy phép số 2371/GP-UBND ngày 14/10/2010 (thời hạn 12 năm), trữ lượng 118.095 tấn, công suất 5.000 tấn/năm.
    • Công ty TNHH Khai thác Chế biến Khoáng sản Núi Pháo: Mỏ Vonfram đa kim Núi Pháo theo Giấy phép số 1710/GP-BTNMT ngày 21/09/2010 (thời hạn 17,5 năm), diện tích 586 ha, trữ lượng 82.000 tấn, công suất 5,3 triệu tấn quặng/năm.
    • HTX Công nghiệp và Vận tải Chiến Công: Mỏ sắt Đá Liền theo Giấy phép số 2937/GP-UBND ngày 06/09/2010 (thời hạn 14 năm), diện tích 13,8 ha, trữ lượng 128.877 tấn, công suất 10.000 tấn/năm.
    • Công ty Cổ phần Kim Sơn: Mỏ thiếc Bismut Tây Núi Pháo theo Giấy phép số 145/GP-UBND ngày 19/01/2011 (thời hạn 20 năm), diện tích 22 ha, trữ lượng 112.887 tấn, công suất 6.000 tấn/năm.
  3. Biến động diện tích đất nông nghiệp: Hoạt động khai thác khoáng sản chiếm dụng đất khiến quỹ đất nông nghiệp của xã sụt giảm nghiêm trọng qua các kỳ kiểm kê:

Loại đất (ha) Năm 2005 Năm 2010 Năm 2013
Đất sản xuất nông nghiệp 543,25 396,20 345,70
Đất lâm nghiệp 600,47 517,83 405,00
Đất nuôi trồng thủy sản 13,20 9,40 9,40
Đất nông nghiệp khác 0,00 0,13 0,13
Tổng diện tích 1.156,92 923,56 760,23

Từ năm 2005 đến năm 2013, tổng diện tích đất nông nghiệp đã giảm 396,69 ha (đất sản xuất nông nghiệp giảm 197,55 ha; đất lâm nghiệp giảm 195,47 ha). Riêng diện tích đất gieo cấy lúa giảm từ 247,7 ha (năm 2006, sản lượng 1.027 tấn) xuống còn 155,7 ha (năm 2011, sản lượng 852,5 tấn).

  1. Hiện trạng ô nhiễm nước và bệnh tật dân sinh: Nguồn nước mặt và nước ngầm tại các xóm 3, 4, 6, 8 bị ô nhiễm sắt nghiêm trọng (nước bơm lên có màu vàng, mùi tanh nồng), hàm lượng asen tại một số điểm dao động từ 0,068 đến 0,109 mg/l, vượt quy chuẩn từ 1,7 đến 8,2 lần. Mực nước ngầm suy giảm sâu vào mùa khô (tháng 11 đến tháng 3) do mất rừng đầu nguồn và các hoạt động đào bới sâu lòng đất, đắp đập ngăn dòng.

Khảo sát 50 hộ gia đình (tổng số 204 nhân khẩu) ghi nhận 100% số hộ có thành viên mắc các bệnh liên quan đến ô nhiễm môi trường nước và không khí:

STT Loại bệnh thường gặp Số người mắc
1 Bệnh đường hô hấp 72
2 Bệnh ngoài da 27
3 Bệnh đường ruột 19
4 Bệnh khác (đau đầu, căng thẳng, đau mắt đỏ, cao huyết áp...) 40

Trong nhóm bệnh khác, điều tra ghi nhận có 01 trường hợp bị đột quỵ, 01 trường hợp mắc bệnh ung thư và 01 trường hợp bị sảy thai.

  1. Thực trạng quản lý chất thải sinh hoạt: Trong 50 hộ điều tra, có 23 hộ (chiếm 46%) xử lý bằng cách đào hố rác riêng và tự đốt; 19 hộ (chiếm 38%) thực hiện thu gom rác theo hợp đồng dịch vụ (đổ nhờ tại bãi chôn lấp của mỏ than Phấn Mễ); 8 hộ (chiếm 16%) xử lý bằng các hình thức khác như vứt tùy tiện ra bờ suối, vườn nhà.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả đạt được, chỉ rõ mức độ suy giảm tài nguyên đất canh tác và ô nhiễm nguồn nước ngầm tại các xóm tiếp giáp khu vực khai thác mỏ. Đồng thời, văn bản đưa ra các kiến nghị đối với các cấp quản lý nhà nước và các doanh nghiệp khai khoáng nhằm kiểm soát ô nhiễm, hỗ trợ nước sạch cho người dân và phục hồi môi trường sau khai thác.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả cụ thể, dựa trên tài liệu thứ cấp, số liệu phỏng vấn thực địa và kết quả thử nghiệm:

  • Lập danh mục và xác định cụ thể giấy phép, trữ lượng, diện tích và công suất khai thác của 5 cơ sở khai khoáng chủ lực trên địa bàn xã Hà Thượng.
  • Định lượng mức độ thu hẹp tài nguyên đất giai đoạn 2005 - 2013: Diện tích đất nông nghiệp giảm 396,69 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp giảm 36,36% (từ 543,25 ha xuống 345,7 ha), đất cấy lúa thu hẹp từ 247,7 ha xuống 155,7 ha.
  • Xác định thực trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm: Nước giếng khoan và giếng đào của nhân dân tại xóm 3, xóm 4, xóm 6, xóm 8 bị ô nhiễm sắt phổ biến (nước có màu vàng, váng nổi và mùi tanh); nồng độ asen cục bộ vượt quy chuẩn từ 1,7 đến 8,2 lần (0,068 - 0,109 mg/l). Mực nước ngầm sụt giảm nghiêm trọng vào các tháng mùa khô (11, 12, 1, 2, 3).
  • Cung cấp số liệu dịch tễ học môi trường sơ bộ tại 50 hộ dân (204 người), chứng minh mối liên hệ giữa ô nhiễm nguồn nước và tỷ lệ mắc bệnh hô hấp (72 ca), ngoài da (27 ca), đường ruột (19 ca).
  • Khái quát bức tranh xử lý chất thải dân sinh: Hệ thống xử lý chất thải sinh hoạt và chăn nuôi còn thô sơ; 46% số hộ tự đốt rác tại gia đình, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi phần lớn xả trực tiếp vào hố tự đào ngấm vào lòng đất hoặc chảy tràn ra suối Cát, Khe Vối.

Các giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Nhóm giải pháp quản lý: Đề nghị Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ và UBND xã Hà Thượng tăng cường giám sát, thanh tra việc thực hiện cam kết ĐTM của các đơn vị khai khoáng; buộc các doanh nghiệp lắp đặt và vận hành nghiêm túc hệ thống quan trắc nước thải tự động; quy hoạch bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt hợp vệ sinh thay thế việc đổ nhờ mỏ than Phấn Mễ.
  • Nhóm giải pháp kỹ thuật: Khuyến cáo người dân xây dựng bể lọc cát, sỏi, giàn mưa khử sắt trước khi sử dụng nước giếng; các mỏ phải hoàn thiện hồ lắng, trạm xử lý nước thải tuyển quặng và xây dựng đê kè chống sạt lở bãi thải đất đá.
  • Hỗ trợ an sinh xã hội: Đề xuất mở rộng chương trình cấp nước sạch tập trung hoặc kéo dài đường ống dẫn nước tự chảy từ các nguồn không bị ô nhiễm về các xóm chịu ảnh hưởng nặng (xóm 3, 4, 6, 8).

Đóng góp của khóa luận: Cung cấp bộ dữ liệu thực tế tại chỗ về hiện trạng biến động đất đai và ô nhiễm nước ngầm tại xã Hà Thượng ở thời điểm năm 2014, tạo tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý tài nguyên địa phương trong việc đánh giá tác động cộng hưởng của các khu mỏ đến đời sống nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận:

  • Số lượng mẫu phân tích thực nghiệm trong phòng thí nghiệm còn rất ít (chỉ lấy ngẫu nhiên 2 mẫu đất và 2 mẫu nước), chưa đủ mật độ để xử lý thống kê không gian hay xây dựng bản đồ phân vùng ô nhiễm chi tiết cho toàn bộ 13 xóm trên địa bàn xã.
  • Thời gian nghiên cứu ngắn (3 tháng, từ 25/01/2014 đến 25/04/2014) nên chưa theo dõi được sự biến động nồng độ các chất ô nhiễm theo chu kỳ các mùa khác nhau (giữa mùa mưa lũ và đỉnh điểm mùa khô hạn).
  • Nguồn lực phân tích hạn chế nên chưa kiểm nghiệm đầy đủ các chỉ tiêu vi sinh vật trong nước ngầm và dư lượng hóa chất tuyển quặng đặc thù trong đất.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mạng lưới điểm quan trắc, tăng số lượng mẫu đất nông nghiệp và mẫu nước dưới đất trên toàn bộ các xóm giáp ranh khu khai trường mỏ Núi Pháo, mỏ than Phấn Mễ và mỏ sắt Đá Liền.
  • Quan trắc liên tục theo mùa để đánh giá cơ chế lan truyền chất ô nhiễm trong tầng chứa nước ngầm nông và nước ngầm sâu.
  • Phân tích tích lũy sinh học các kim loại nặng độc hại (As, Cd, Pb) trong các loại nông sản chủ lực của địa phương như chè búp và hạt lúa nhằm đánh giá rủi ro sức khỏe cộng đồng qua chuỗi thức ăn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên môi trường, Khoa học đất và Nông nghiệp khi thực hiện các đồ án, đề tài nghiên cứu về tác động môi trường của hoạt động khai thác mỏ lộ thiên.
  • Cán bộ quản lý tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ và UBND xã Hà Thượng trong công tác theo dõi hiện trạng sử dụng đất, lập kế hoạch bảo vệ môi trường nông thôn mới và xây dựng phương án cấp nước sạch sinh hoạt cho các khu dân cư lân cận mỏ khoáng sản.
  • Phần đáng tham khảo nhất của văn bản là hệ thống số liệu thống kê biến động diện tích đất nông nghiệp (2005 - 2013), số liệu pháp lý của 5 doanh nghiệp khai khoáng và phương pháp kết hợp giữa điều tra xã hội học với khảo sát thực tế hiện trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Những doanh nghiệp khai khoáng nào đang hoạt động trực tiếp trên địa bàn xã Hà Thượng theo văn bản? Trên địa bàn xã Hà Thượng có 5 đơn vị khai khoáng chính:

  • Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên (Mỏ than Làng Cẩm, Phấn Mễ; khai thác than theo GP số 64/TTg);
  • Công ty An Phát Thái (Mỏ than xóm 11; trữ lượng 118.095 tấn theo GP số 2371/GP-UBND);
  • Công ty TNHH Khai thác Chế biến Khoáng sản Núi Pháo (Mỏ đa kim Núi Pháo; diện tích 586 ha, trữ lượng 82.000 tấn theo GP số 1710/GP-BTNMT);
  • HTX Công nghiệp và Vận tải Chiến Công (Mỏ sắt Đá Liền; diện tích 13,8 ha theo GP số 2937/GP-UBND);
  • Công ty Cổ phần Kim Sơn (Mỏ thiếc Bismut Tây Núi Pháo; diện tích 22 ha theo GP số 145/GP-UBND).

2. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp và đất lúa của xã Hà Thượng suy giảm cụ thể như thế nào? Theo số liệu kiểm kê đất đai trong khóa luận:

  • Từ năm 2005 đến năm 2013, tổng diện tích đất nông nghiệp của xã giảm từ 1.156,92 ha xuống còn 760,23 ha (giảm 396,69 ha). Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp giảm từ 543,25 ha xuống 345,70 ha (giảm 197,55 ha); đất lâm nghiệp giảm từ 600,47 ha xuống 405,00 ha (giảm 195,47 ha).
  • Riêng diện tích đất gieo cấy lúa cả hai vụ giảm từ 247,7 ha (năm 2006) xuống còn 155,7 ha (năm 2011), kéo theo sản lượng lúa giảm từ 1.027 tấn xuống còn 852,5 tấn.

3. Hiện trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm tại các khu dân cư xã Hà Thượng có biểu hiện gì đặc thù? Người dân phản ánh nguồn nước giếng khoan và giếng khơi tại xóm 3, xóm 4, xóm 6, xóm 8 bị ô nhiễm sắt phổ biến, nước bơm lên có màu vàng, mùi tanh nồng và đóng cặn. Một số khu vực có nồng độ asen dao động từ 0,068 đến 0,109 mg/l, vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép từ 1,7 đến 8,2 lần. Ngoài ra, mực nước ngầm suy giảm mạnh và cạn kiệt vào các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3).

4. Kết quả điều tra sức khỏe người dân liên quan đến nguồn nước ghi nhận những bệnh tật nào? Khảo sát phỏng vấn 50 hộ dân (204 người) cho thấy 100% số hộ có thành viên mắc bệnh: có 72 người mắc bệnh đường hô hấp, 27 người mắc bệnh ngoài da, 19 người mắc bệnh đường ruột và 40 người mắc các bệnh khác (đau đầu, căng thẳng, đau mắt đỏ, cao huyết áp). Đáng lưu ý, cuộc điều tra ghi nhận 01 ca đột quỵ, 01 ca ung thư và 01 ca sảy thai.

5. Nghiên cứu đã lấy những mẫu đất và nước nào để phân tích trong phòng thí nghiệm? Khóa luận đã lấy ngẫu nhiên 4 mẫu vào ngày 09/03/2014 để phân tích tại Khoa Môi trường - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên:

  • Mẫu đất MĐ-01: Đất trồng cây lâu năm tại nhà ông Nguyễn Văn Chúc (xóm 2);
  • Mẫu đất MĐ-02: Đất trồng màu tại nhà ông Tạc Văn Hợp (xóm 6);
  • Mẫu nước MN-01: Nước thải sau xử lý của mỏ Núi Pháo tại khu vực Khe Vối (giáp ranh xóm 3 và xóm 4);
  • Mẫu nước MN-02: Nước ngầm từ giếng đào của hộ bà Phạm Thị Tính (xóm 3).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Ngân Hạnh đã phản ánh bức tranh hiện trạng môi trường đất nông nghiệp và nước ngầm tại xã Hà Thượng, huyện Đại Từ dưới tác động trực tiếp từ hoạt động khai khoáng giai đoạn 2010 - 2014. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật sự sụt giảm nghiêm trọng diện tích đất canh tác (giảm 396,69 ha đất nông nghiệp trong giai đoạn 2005 - 2013) và nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là sắt và asen trong nguồn nước ngầm sinh hoạt của người dân lân cận các khu mỏ. Mặc dù dung lượng mẫu thực nghiệm còn hạn chế, công trình vẫn mang giá trị thực tiễn rõ rệt, cung cấp cơ sở dữ liệu địa phương phục vụ công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng nông thôn.