MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất là tài sản của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế-xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn tại của loài người.
Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi vá các công trình thuỷ lợi khác. Chính vì tầm quan trọng của đất đai mà nguồn tài nguyên này cần phải được sử dụng một cách tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả.
Một quốc gia muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải sử dụng nguồn tài nguyên này hợp lý, hiệu quả và bền vững. Trong định hướng phát triển kinh tế xã hội theo cơ cấu Công nghiệp – Dịch vụ - Nông nghiệp, bên cạnh việc phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên đang đầu tư phát triển thương mại – dịch vụ - du lịch, trong đó thị xã Phổ Yên thành trung tâm đô thị, công nghiệp, dịch vụ, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội các khu đô thị, các khu dân cư đồng bộ, hiện đại, phát triển kinh tế xã hội hướng tới mục tiêu đưa thị xã Phổ Yên thành đô thị loại 3 vào năm 2020.[3] Ngày 03/03/2017, UBND tỉnh Thái Nguyên đã đồng ý chủ trương đầu tư dự án Đầu tư xây dựng Khu dân cư Tấn Đức JSC với quy mô 18,889ha cho Công ty Cổ phần đầu tư hạ tầng Tấn Đức đầu tư tại Quyết định số 498/QĐ- UBND. Việc đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị Tấn Đức góp phần 2 không nhỏ trong việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Tuy nhiên, việc xây dựng còn gây ra các tác động tiêu cực đến môi trường, đặc biệt là môi trường đất.
Trên cơ sở đó, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa môi trường, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Thế Hùng, Giảng viên khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài :“Đánh giá hiện trạng môi trường đất trong quá trình xây dựng khu đô thị Tấn Đức”. Mục đích nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá hiện trạng môi trường đất trong quá trình xây dựng khi đô thị Tấn Đức – thị xã Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể Đánh giá chung về dự án khu đô thị Tấn Đức.
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường đất trong quá trình xây dựng khu đô thị Tấn Đức. Đánh giá chất lượng môi trường đất tại khu vực xây dựng khu đô thị Tấn Đức 1. Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng, phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp dụng vào thực tế. - Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu, học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế.
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn - Các số liệu thu thập, tổng hợp, phân tích được chính xác có thể sử dụng làm căn cứ để đưa ra các nhận xét, đánh giá khách quan nhất. 3 - Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở quản lý môi trường nói chung và người dân trong khu vực nói riêng. - Góp phần nâng cao chất lượng, phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở lý luận Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn để phân bố dân cư, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tại Chương III Điều 54 [9] quy định: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.
Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật”. Việc quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất đúng mục đích, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái sẽ phát huy tối đa nguồn lực của đất đai, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Khái niệm môi trường: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
Khái niệm ô nhiễm môi trường: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [4]. Khái niệm ô nhiễm môi trường đất: "Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm". 5 Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm. Nếu theo nguồn gốc phát sinh có: Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt.
Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp. Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc thù và một số tác nhân gây ô nhiễm có thể cùng một nguồn gốc nhưng lại gây tác động bất lợi rất khác biệt. Do đó, người ta còn phân loại ô nhiễm đất theo các tác nhân gây ô nhiễm: Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ v.), chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit v.
Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lỵ, thương hàn, các loại ký sinh trùng (giun, sán v. Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr90, I131, Cs137). Chất ô nhiễm sau khi thấm vào đất sẽ lưu lại trong đó. Hiện tượng này khác xa với hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở đây chỉ cần chất ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự vận động của không khí và nước sẽ có khả năng tự làm sạch.
Ðất không có khả năng này, nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô nhiễm cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức. Tiêu chuẩn để đánh giá đất bị ô nhiễm Phương pháp phổ biến hiện nay là phân tích hoá học đất. Các chỉ tiêu quan tâm đều được tiến hành phân tích và tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể của mỗi quốc gia sẽ ấn định các thang đánh giá. Dựa vào nồng độ của các hợp chất nitơ trong quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ chứa nitơ người ta có thể đánh giá độ nhiễm bẩn của đất.
- Nhiều NH3 - đất mới bị ô nhiễm 6 - Nhiều NO2 - đất đang bị ô nhiễm - Nhiều NO3 - đất đã có mức độ khoáng hoá cao. Dựa vào hàm lượng Clo để đánh giá tình trạng sạch của đất - Ít muối Clo: Đất bẩn - Nhiều muối Clo: Đất rất bẩn - Không có Clo: Đất tự làm sạch. Dựa vào hàm lượng KLN trong đất mỗi quốc gia đưa ra các thang đánh giá về giới hạn cho phép của KLN trong đất. Ngành Y tế dựa vào chỉ số vệ sinh Chỉ số vệ sinh = Nitơ anbumin của đất / Nitơ hữu cơ Khi đất bị nhiễm bẩn thì vi sinh vật hoạt động yếu, nitơ hữu cơ tăng, nitơ anbumin trong vi sinh vật giảm xuống.
Chỉ số vệ sinh Tình trạng đất, Quy định như sau: < 0,7. Nhiễm bẩn mạnh 0,7 - 0,85. Nhiễm bẩn trung bình 0,85 - 0,98. Nhiễm bẩn yếu > 0,98.
Cơ sở pháp lý - Luật bảo vệ môi trường 55/2014/QH13 được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực thi hành ngày 1/1/2015. - Luật đất đai 45/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013. - Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 3/12/2008 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. - QCVN 03:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất 7 - QCVN 03:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kim loại nặng trong đất.
- TCVN 5297 – 1995 : Chất lượng đất – lấy mẫu – yêu cầu chung - TCVN 7538 - 2: 2005 - Chất lượng đất - Lấy mẫu - Phần 2: Hướng dẫn kĩ thuật lấy mẫu; 2. Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình sử dụng đất tại Việt Nam a.Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 * Theo nhóm đất sử dụng: Tổng diện tích tự nhiên của cả nước là 33.035 ha đất đã được sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp, chiếm 93,59% tổng diện tích tự nhiên; còn 2.042 ha đất chưa được sử dụng vào các mục đích, chiếm 6,41% tổng diện tích tự nhiên. - Nhóm đất nông nghiệp có diện tích là 27.206 ha, chiếm 82,43% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 87,07% tổng diện tích đất đã sử dụng - Nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích là 3.829 ha, chiếm 11,16% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 11,93% tổng diện tích đất đã sử dụng - Nhóm đất chưa sử dụng có diện tích là 2.042 ha, chiếm 6,41% tổng diện tích tự nhiên cả nước * Theo các loại đối tượng sử dụng, quản lý: Diện tích đất đã được giao cho các loại đối tượng sử dụng là 26.054 ha, chiếm 80,92% tổng diện tích tự nhiên.
Trong đó: - Hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng 15.