Chương 1- Cơ chế di truyền và biến dị- Sinh học 12- THPT. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá định tính chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh trong dạy học 1. Các khái niệm cơ bản 1. Kiểm tra Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem xét thực chất, thực tế.
Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra là soát xét lại công việc, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Còn theo Trần Bá Hoành [7], kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá. Theo Trịnh Nguyên Giao [6], kiểm tra là theo dõi sự tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm cung cấp những dữ kiện, những thông tin cho việc đánh giá. Về mặt lý luận dạy học, kiểm tra để biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò.
Từ đó, học sinh rút kinh nghiệm để học tốt hơn nếu được kiểm tra, đánh giá thường xuyên một cách nghiêm túc, công bằng với kĩ thuật cao. Giáo viên qua đó mà điều chỉnh, thay đổi cách dạy để nâng cao hiệu quả dạy học. 11 z Kiểm tra có ba chức năng, ba bộ phận liên kết, thống nhất và bổ sung cho nhau, đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh việc dạy và học thể hiện qua sơ đồ: Hình 1. Cấu trúc chức năng của kiểm tra Ba chức năng này liên kết thống nhất với nhau, cụ thể như sau: a) Đánh giá kết quả học tập của HS là quá trình xác định trình độ đạt tới những chỉ tiêu của mục đích dạy học, xác định xem khi kết thúc một giai đoạn (một bài, một chương, một học kỳ, một năm.) của quá trình dạy học đã đạt được những tiến bộ gì về kiến thức và kỹ năng.
b) Phát hiện lệch lạc (theo lý thuyết thông tin) phát hiện ra những mặt đã đạt được và chưa đạt được mà môn học đề ra đối với HS, qua đó tìm ra những khó khăn và trở ngại trong quá trình học tập của HS. Xác định được những nguyên nhân lệch lạc về phía người dạy cũng như người học để đề ra phương án giải quyết. c) Điều chỉnh qua kiểm tra (theo lý thuyết điều khiển): GV điều chỉnh kế hoạch dạy học (nội dung và phương pháp sao cho thích hợp để loại trừ những lệch lạc, tháo gỡ những khó khăn trở ngại, thúc đẩy quá trình học tập của HS). Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế của việc dạy và học để đánh giá và nhận xét.
Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông gồm [9]: - Kiểm tra thường xuyên: kiểm tra vấn đáp và kiểm tra viết 15 phút. Kiểm tra vấn đáp được sử dụng trước, trong và sau khi học bài mới. Nó giúp GV thu được những thông tin phản hồi nhanh chóng và có tác dụng thúc đẩy, kích thích HS tích cực học 12 z tập một cách thường xuyên, có hệ thống. Kiểm tra 15 phút được sử dụng sau khi kết thúc một hoặc một số tiết học, nó có tác dụng kiểm tra nhận thức của HS trong phạm vi kiến thức không quá nhiều, giúp HS thường xuyên củng cố, ôn luyện kiến thức và rèn luyện năng lực trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ viết.
- Kiểm tra định kì: được sử dụng sau khi kết thúc một hay một số chương, phần, mô-đun, chủ đề… và gồm có: kiểm tra viết; kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên; kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm. Kiểm tra định kì có tác dụng kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS về một vấn đề tương đối hoàn chỉnh trong phạm vi kiến thức đã học, giúp HS rèn luyện năng lực phân tích, tổng hợp vấn đề; kĩ năng kĩ xảo thực hành, ứng dụng thực tế. Đánh giá Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu qủa công việc. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý [21], đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị.
Theo từ điển Tiếng Việt của Văn Tân thì đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật. Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống [16] là quá trình thu thập và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục. Căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo. Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh.
Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính. Như vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ học sinh. Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định. Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau.
Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua 13 z kết quả của kiểm tra để xác định giá trị của việc dạy và học. Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra- đánh giá. Có các loại đánh giá là: đánh giá chẩn đoán, đánh giá từng phần, đánh giá tổng kết và ra quyết định. - Đánh giá chẩn đoán được tiến hành trước khi dạy một chương hay một vấn đề quan trọng nào đó giúp cho GV nắm được tình hình những kiến thức liên quan có trong học sinh, những điểm học sinh nắm vững, những lỗ hổng cần bổ khuyết.
để quyết định cách dạy cho thích hợp. - Đánh giá từng phần được tiến hành nhiều lần trong giảng dạy nhằm cung cấp nhưng thông tin ngược để GV và HS kịp thời điều chỉnh cách dạy và cách học, ghi nhận xét kết quả từng phần để tiếp tục thực hiện chương trình một cách vững chắc. - Đánh giá tổng kết tiến hành khi kết thúc môn học, khóa học bằng những kì thi nhằm đánh giá tổng quát kết quả học tập, đối chiếu với những mục tiêu đề ra đạt kế hoạch đến đâu để kịp thời bổ sung cho những lần sau. Đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin, xác định mức độ đạt được về thực hiện mục tiêu.
Kiểm tra là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến hệ thống về kết quả thực hiện mục tiêu. Kiểm tra là công cụ của đánh giá, đồng thời kiểm tra, đánh giá là hai khâu trong một quy trình thống nhất xác định kết quả thực hiện mục tiêu. Trong nhiều trường hợp, khi nói đánh giá, nghĩa là đã bao gồm cả kiểm tra. Đánh giá có hai chức năng cơ bản: - Chức năng xác định: + Xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện mục tiêu; + Xác định đòi hỏi tính chính xác, khách quan, công bằng.
- Chức năng điều khiển: + Phát hiện những mặt tốt, mặt chưa tốt, khó khăn, vướng mắc và xác định nguyên nhân; + Kết quả đánh giá là căn cứ để ra quyết định về giải pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả. Ra quyết định là khâu cuối cùng của KT-ĐG. Dựa vào những định hướng trong khâu đánh giá. GV quyết định những biện pháp cụ thể để giúp đỡ học sinh hay cả lớp về những sai sót đặc biệt hay những thiếu sót phổ biến.
14 z Mục đích đánh giá chất lượng: đánh giá chất lượng giáo dục nhằm xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn của đối tượng được đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục; để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận đối tượng đạt chuẩn chất lượng giáo dục. Kết quả đánh giá chất lượng: - Giúp HS biết được khả năng học tập của mình so với yêu cầu của chương trình; xác định nguyên nhân thành công cũng như chưa thành công, từ đó điều chỉnh phương pháp học tập; phát triển kỹ năng tự đánh giá; - Giúp GV nắm được tình hình học tập, mức độ phân hóa về trình độ học lực của HS trong lớp, từ đó có biện pháp giúp đỡ HS yếu kém và bồi dưỡng HS giỏi; giúp GV điều chỉnh, hoàn thiện phương pháp dạy học; - Giúp cán bộ quản lý giáo dục đề ra giải pháp quản lý phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục; - Giúp cha mẹ HS và cộng đồng biết được kết quả giáo dục của từng HS, từng lớp và của cả cơ sở giáo dục. Quy trình đánh giá chất lượng: Đối tượng tự đánh giá Đánh giá ngoài Công nhận đối tượng đạt chuẩn chất lượng giáo dục. Tự đánh giá là hoạt động tự xem xét, tự kiểm tra, đánh giá của đối tượng căn cứ vào chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ GD-ĐT ban hành để chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng và các biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng chuẩn chất lượng giáo dục.
Đánh giá ngoài đối với đối tượng được đánh giá là hoạt động đánh giá của một tổ chức đánh giá ngoài (không bao gồm đối tượng được đánh giá) nhằm xác định mức độ đối tượng thực hiện chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ GD-ĐT ban hành. Đánh giá định lượng Gắn liền với khái niệm đánh giá là các khái niệm: “đo” và “lượng giá”. “Đo”, theo định nghĩa của J.Guilford, là gắn liền với đối tượng hoặc một biến cố theo một nguyên tắc đã được chấp nhận một cách lôgic [13]. “Lượng giá” là việc đưa ra những thông tin ước lượng trình độ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của một học 15 z sinh dựa trên kết quả của việc “đo”.
Lượng giá là bước trung gian giữa đo và đánh giá.