CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ NHÂN VĂN CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm tự nhiên của vùng Ngọc Động 1. Vị trí vùng nghiên cứu Ngọc Động là một xã của huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam. Xã Ngọc Động có diện tích 37,7 km², dân số năm 1999 là 1., mật độ dân cư đạt 40,3 người/km².
Xã Ngọc Động được chia thành các xóm: Bó Mioọc, Lũng Nhùng, Tàn Hạ, Tàn Thượng, Lũng Vần, Nặm Ngùa, Thượng Hạ, Tấn Hẩu, Phiêng Pục, Lũng Nặm, Cốc Phát. Trên địa bàn xã Ngọc Động có các ngọn núi như Ôc Phầu, Lũng Xì Tủng, Phùng Lũng, Phặt Phìn, Thôm Cán. Xã có vị trí: Bắc giáp xã Lương Thông, xã Đa Thông. Đông giáp xã Đa Thông, thị trấn Thông Nông.
Nam giáp xã Lương Can, xã Thạch Long, xã Yên Sơn. Tây giáp xã Yên Sơn, xã Hồng An (Bảo Lạc). Tọa độ: 22°47′51″B 105°55′41″Đ 4 Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đồ án tốt nghiệp Hình 1.1: Sơ đồ vị trí vùng Ngọc Động 1. Đặc điểm địa hình, địa mạo vùng nghiên cứu Vùng điều tra Ngọc Động có địa hình lòng chảo ở giữa là thung lũng nhỏ với diện tích khoảng 2,8km2.
Xung quanh thung lũng là các chỏm núi đá vôi cao, đỉnh cao nhất có độ cao 751m. Đặc điểm khí hậu vùng nghiên cứu Khí hậu của vùng Ngọc Động nói riêng và huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng nói chung mang tính nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao và có đặc trưng riêng so với các vùng núi khác thuộc vùng Đông Bắc. Có khí hậu á nhiệt đới. Đây là cửa ngõ đón gió mùa Đông Bắc từ Trung Quốc tràn vào mùa đông và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam vào mùa hè.
Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô - Mùa mưa: bắt đầu vào tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 năm sau. Vào mùa này thường có gió mùa Đông Nam và chịu một phần nhỏ của gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. 5 Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đồ án tốt nghiệp - Mùa khô: kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau. Mùa này khí hậu ôn đới mát mẻ, giá lạnh, hay có sương mù có vùng còn xuất hiện sương muối.
Gió mùa Đông Bắc thường xuyên thổi đến gây khô và rét. Các tháng giá rét thường kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Do trong vùng nghiên cứu giai đoạn này không có trạm khí tượng nào, nên tài liệu khí tượng sẽ được tham khảo của một số trạm khí tượng gần khu vực. - Nhiệt độ không khí : Nhiệt độ trung bình của cả năm là 21,4 °C.
Mùa lũ ở đây có đặc điểm nóng ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 24 - 27 °C và thấp trung bình từ 21 - 24 °C, nhiệt độ không lên đến 29 - 30 °C. Vào mùa khô, do địa hình Cao Bằng đón gió nên nó có kiểu khí hậu gần giống với ôn đới, nhiệt độ trung bình thấp từ 11 - 13 °C và trung bình cao từ 15 - 21 °C, đỉnh điểm vào những tháng 12, 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống thấp hơn khoảng từ 6 - 8 °C, độ ẩm thấp, trời hanh khô. Mùa xuân và mùa thu không rõ rệt, thời tiết thất thường; mùa xuân thường có tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ chịu. 6 Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đồ án tốt nghiệp Bảng 1.1: Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm tại tr ạm Cao Bằng.
Tháng Năm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 15, 22, 26, 19, 2011 13,9 17,2 23,1 27,4 25,1 25,0 21,6 16,1 1 6 1 7 16, 25, 27, 17, 2012 12,4 17,4 23,2 27,2 27,1 26,3 22,8 16,5 1 1 7 4 17, 26, 27, 19, 2013 12,9 7 22,2 23,6 6 27,6 27,2 0 25,1 21,9 6 12,3 16, 25, 25, 19, 2014 13,8 8 16,7 26,8 4 26,3 26,0 5 25,1 21,8 0 12,5 15, 22, 26, 19, 2015 13,7 0 16,8 21,8 7 27,0 25,0 0 25,0 21,6 6 16,0 16, 25, 27, 17, 2016 12,5 2 17,1 23,2 0 27,2 27,0 8 26,4 22,9 5 16,5 Trung Bình 13,2 16,0 18,0 24,0 25,0 27,0 26,0 26,6 25,4 22,1 18,8 14,9 (Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Cao Bằng) - Mưa: Trong mùa mưa lượng mưa chiếm tới trên 23% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa trung bình năm là 1291mm, lượng mưa trung bình mùa mưa là 200~250mm còn trong mùa khô là 20 – 40mm. Lượng mưa lớn nhất trong ghi nhận là 303m (năm 2014).2: Lượng mưa trung bình các tháng trong năm ghi tại trạm Cao Bằng. Tháng Năm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 2011 17 25 32 62 120 285 254 298 88 64 74 9 2012 50 14 49 85 227 220 234 283 95 72 63 12 2013 16 6 55 50 209 130 210 254 75 88 46 83 2014 10 13 26 43 150 291 255 303 124 65 9 2 2015 20 15 36 44 89 120 160 300 130 44 136 50 2016 48 19 38 97 114 111 245 298 242 35 30 12 7 Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đồ án tốt nghiệp Trung Bình 26,8 15,3 39,3 63,5 152 193 226 289 126 61,3 59,7 28 (Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Cao Bằng) - Độ ẩm : Độ ẩm trung bình năm là 82.6%, và có sự chênh lệch ít giữa các mùa trong năm. Độ ẩm trung bình mùa lũ là 80% - 90% , còn trong mùa khô là 70% - 80% ( bảng 1.3: Độ ẩm trung bình các tháng trong năm ghi tai trạm Cao Bằng.
Tháng Năm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 2011 80 81 80 78 84 86 81 87 84 83 79 79 2012 83 85 81 78 84 81 86 85 85 81 87 81 2013 88 86 79 79 83 81 86 85 85 82 82 82 2014 81 80 82 79 82 84 85 87 86 85 78 68 2015 80 79 80 80 83 82 83 84 85 81 87 82 2016 84 80 81 82 80 85 81 87 84 82 82 80 Trung Bình 84 82 80 81 82 83 84 85 85 83 83 76 (Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Cao Bằng) 8 Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đồ án tốt nghiệp 350 90 % mm, độ C 80 300 70 250 60 200 50 Lượng mưa 40 (mm) 150 Độ ẩm (%) Nhiệt độ 30 (Độ C) 100 27 26 26.2 10 0 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng Hình 1.2: Biểu đồ khí tượng của vùng Ngọc Động, Thông Nông, Cao Bằng ( tài liệu thống kê trung bình tháng từ năm 2011 – 2016). 9 Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đồ án tốt nghiệp 1. Đặc điểm thủy văn vùng nghiên cứu Mạng lưới thủy văn trong vùng nghiên cứu là rất nghèo nàn. Trong vùng chỉ có 1 nhánh suối nhỏ chảy qua vùng trung tâm theo hướng từ Tây sang Đông.
Suối và mùa khô hầu như khô cạn không có dòng chảy. Đặc điểm kinh tế - nhân văn của vùng nghiên cứu 1. Đặc điểm dân cư và phát triển kinh tế vùng nghiên cứu - Xã Ngọc Động có dân số năm 1999 là 1., mật độ dân cư đạt 40,3 người/km². Thành phần dân số chủ yếu là người dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Mông.
Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp nhưng nhìn chung kém phát triển. Điều kiện cơ sở hạ tầng lạc hậu, đã xuống cấp không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Kinh tế chủ yếu là kinh tế Lâm – nông nghiệp và chăn nuôi nhỏ, tuy nhiên kém phát triển. Điều kiện cơ sở hạ tầng lạc hậu, đã xuống cấp không đáp ứng được như cầu phát triển kinh tế trong vùng.
Chất lượng nước đang giảm dần mà nhu cầu sử dụng lại tăng nên việc tìm kiếm nguồn nước sạch là cấp thiết. Đặc điểm giao thông của vùng nghiên cứu Hiện tại mạng lưới giao thông trong khu vực nghiên cứu còn thưa đi vào vùng nghiên cứu là đường độc đạo đi từ hướng trung tâm huyện vào. Giao thông trong vùng chủ yếu là các đường nhỏ dân sinh. Hiện trạng sử dụng nước Qua điều tra, khảo sát thực tế cho thấy tại vùng nghiên cứu giai đoạn này không có các công trình khai thác nước dưới đất vừa và lớn, cụ thể như sau: Các hộ dân khai thác nước dưới đất từ các giếng đào để phục vụ sinh hoạt hàng ngày, tầng chứa nước khai thác của các giếng đào này là tầng chứa nước thuộc hệ tầng Sông Hiến (t1).
Theo người dân trong vùng cho biết về mùa khô các giếng đào này không đủ cung cấp cho nhu cầu sử dụng nước của các hộ dân. Tuy nhiên theo người dân trong vùng cho biết vào những tháng mùa khô thì hầu hết các nguồn lộ đều cạn kiệt và mực nước ở các giếng đào hạ sâu, không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của các hộ dân. Do đó người dân phải chuyển sang sử dụng nước mặt từ sông suối để phục vụ sinh hoạt. Nguồn nước mặt được người dân sử dụng 10 Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đồ án tốt nghiệp trực tiếp, không qua xử lý, rất mất vệ sinh.
Dựa trên nhu cầu bức thiết về nguồn nước của nhân dân trong vùng thì việc tiến hành điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất có đủ trữ lượng và chất lượng phục vụ cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong vùng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Không những đảm bảo an toàn, vệ sinh mà còn thúc đẩy kinh tế phát triển và an ninh, quốc phòng vùng biên giới. 11 Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đồ án tốt nghiệp CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG NGHIÊN CỨU 2. Khái quát lịch sử nghiên cứu địa chất vùng nghiên cứu Theo các tài liệu thu thập cho thấy vùng Ngọc Động, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng là vùng tương đối nghèo về các tài liệu địa chất – địa chất thủy văn.
Chỉ có một số công trình ở các giai đoạn khác nhau và mức độ khác nhau nhưng mang tính chất tổng quan chứ chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào. Trước năm 1954 Công tác nghiên cứu địa chất vùng Đông Bắc nói chung và thăm dò nói riêng chủ yếu do người Pháp thực hiện trong đó đáng lưu ý là công trình: Năm 1922 R.Bourret thành lập bản đồ địa chất vùng Đông Bắc, tỷ lệ 1/300 000 và công bố tập “Khảo cứu địa chất Đông Bắc Bắc Bộ” Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu địa chất tổng hợp về khu vực Bắc Bộ Ch.Fromaget (1919 - 1937), nhìn chung các tài liệu nghiên cứu ở giai đoạn này còn ở mức hết sức sơ lược.