CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈNH BÌNH THUẬN VÀ HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỈNH BÌNH THUẬN 1. Khái quát chung về vị trí, tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận 1. Vị trí địa lý: Bình Thuận là tỉnh ven biển thuộc vùng Nam Trung Bộ, có mối liên hệ và nằm trong khu vực ảnh hưởng của Vùng kinh tế trọng điểm phía nam (KTTĐPN). Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Đông - Nam giáp biển Đông, Đông-Bắc giáp Tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, Tây Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu và Đông Nam giáp biển Đông với bờ biển dài 192km và vùng lãnh hải rộng 52.
Ngoài khơi có đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết 120 km. Tổng diện tích tự nhiên 781.292 ha, Bình Thuận có vị trí địa lí từ 10033'42" đến 11033'18" vĩ độ Bắc và từ 107023'41" đến 108052 '42" kinh độ Đông. Tỉnh nằm giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang, giao thông đối ngoại có Quốc lộ 1 với chiều dài 180,5 km và 180 km đường sắt Thống Nhất chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước, Quốc lộ 28 nối liền Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên, Quốc lộ 55 nối liền với trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu. Với vị trí địa lý như trên tạo cho Bình Thuận giao lưu kinh tế thuận lợi và chặt chẽ với các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng Duyên Hải.
Sức hút của các thành phố và các trung tâm phát triển như TP.HCM, Vũng Tàu, Nha Trang tạo điều kiện cho Tỉnh đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật. Đồng thời cũng là một thách thức lớn đặt ra cho Bình Thuận phải phát triển nhanh nền kinh tế, nhất là những ngành mũi nhọn theo thế mạnh đặc thù để mở rộng liên kết, không bị tụt hậu so với khu vực. 6 Nơi xa nhất tỉnh: - Phía Bắc: Xã Phan Dũng - Huyện Tuy Phong. - Phía Nam: Xã Tân Thắng – Huyện Hàm Tân.
- Phía Đông: Xã Vĩnh Tân - Huyện Tuy Phong - Phía Tây: Xã Đông Hà - Huyện Đức Linh Vị trí địa lý vùng tỉnh Bình Thuận 1. Đặc điểm địa hình: Đại bộ phận lãnh thổ là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp. Địa hình hẹp ngang, kéo dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, với nhiều đồi cát đẹp tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi mát thu hút khách du lịch. Đặc điểm khí hậu: Bình Thuận nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt với các đặc điểm sau: - Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 10.
- Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. - Nhiệt độ trung bình: 27o C. - Lượng mưa trung bình năm: 1. - Độ ẩm trương đối: 80 %.
7 Đặc điểm trên là điều kiện khá thuận lợi để tăng năng suất cây trồng, phát triển chăn nuôi đại gia súc có sừng nếu được tiếp nước từ bên ngoài, thuận lợi cho phơi sấy trong sản xuất nông ngư nghiệp và sản xuất muối. Song do lượng mưa nhỏ, lượng bốc hơi lớn nên vấn đề khô hạn là một trong những hạn chế lớn của tỉnh. Vì vậy, yếu tố thủy lợi để giữ nước và cấp nước có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của cư dân Bình Thuận. Dân số và cơ cấu nguồn nhân lực: Dân số: Tính đến năm 2010, dân số của tỉnh Bình Thuận có tổng số dân là 1.913 người, mật độ dân số khoảng 151 người /km2.
Trong đó dân số phân bổ ở thành thị là 462.467 người (chiếm 39.3%), nông thôn là 714.446 người (chiếm 60. Tuy vậy, cũng trong thời gian qua công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh và đạt được những kết quả khá tích cực. Thời kỳ 2005-2010 tỷ lệ sinh 16.2%, tỷ lệ chết 5.1%, tỷ lệ tăng dân số bình quân của Bình Thuận 11. Cơ cấu nguồn nhân lực: Cả tỉnh có 720.386 người trong độ tuổi lao động, trong đó đang làm việc trong các ngành kinh tế là 609.
Đây là một thuận lợi về nguồn nhân lực cho thời kỳ quy hoạch tới, song cũng gây những khó khăn trong việc xóa đói giảm nghèo, giáo dục đào tạo và các vấn đề xã hội khác. Tổng nguồn lao động năm 2010 là 609.540 người tỷ lệ 51.79% dân số, trình độ học vấn trong lực lượng lao động của tỉnh đang có xu hướng nâng lên và có khả năng tăng nhanh trong các năm sau. Kết quả Tổng điều tra cho thấy tỷ trọng lao động đang làm việc đã qua đào tạo ở tỉnh ta vẫn còn rất thấp. Trong tổng số 591.650 người từ 15 tuổi trở lên có việc làm, chỉ có 63.991 người đã qua đào tạo, chiếm 10,8% lao động đang làm việc.
Như vậy, nguồn nhân lực của ta trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật còn thấp. Con số này đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho những cố gắng nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động nhằm phục vụ sự nghiệp 8 công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh ta còn gặp nhiều khó khăn. Lao động đang làm việc có trình độ chuyên môn kỹ thuật của thành thị cao hơn gấp đôi so với nông thôn. Đối với các huyện, thành phố Phan Thiết lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao nhất 16,3%, tiếp đến thị xã La Gi 10,0% và thấp nhất Hàm Tân 5,0%.1: Phân bố phần trăm lao động có việc làm chia theo giới tính và chuyên môn kỹ thuật năm 2009 Đơn vị tính: % Khu vực và đơn vị Tổng Trung Đại học Sơ cấp Cao đẳng hành chính số cấp trở lên Toàn tỉnh 10,8 2,4 4,0 1,6 2,8 Thành thị 16,1 3,3 5,4 2,1 5,3 Nông thôn 7,5 1,8 3,1 1,3 1,3 Chia theo các huyện Phan Thiết 16,3 0,7 5,9 2,3 7,4 La Gi 10,0 0,3 4,6 1,6 3,5 Tuy Phong 5,5 0,2 2,6 1,3 1,4 Bắc Bình 6,7 0,1 3,7 1,2 1,7 Hàm Thuận Bắc 7,6 0,4 4,0 1,4 1,8 Hàm Thuận Nam 6,6 0,1 3,2 1,5 1,8 Tánh Linh 7,0 0,2 3,3 1,3 2,2 Đức Linh 7,4 0,3 4,0 1,6 1,5 Hàm Tân 5,0 0,1 2,5 1,3 1,1 Phú Quý 9,8 0,0 5,0 3,1 1,7 Nguồn: Niên giám thống kê 2010 9 Tình trạng này đã và sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Vì vậy, để nâng cao chất lượng lực lượng lao động với một cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế- xã hội của tỉnh, trong định hướng quy hoạch tới cần chú ý cơ cấu lại hệ thống giáo dục và đào tạo để vừa nâng cao trình độ kỹ thuật chuyên môn và một cơ cấu hợp lý. Các chỉ tiêu tổng hợp kinh tế - xã hội và văn hóa: Tăng trưởng kinh tế: Ước tổng thu ngân sách nhà nước năm 2010 là 6.870 tỷ đồng, đạt 122,5% dự toán năm và tăng 13,5% so với năm 2009. Trong đó, thu nội địa là 2.320 tỷ đồng, đạt 100,9% dự toán và tăng 6,6%. Chi ngân sách đáp ứng được những yêu cầu chi thường xuyên và thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của địa phương.
- Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2010 là 11.50% trong đó: Ngành nông lâm thủy sản tăng 6.2%, công nghiệp – xây dựng tăng 11,2%, thương mại, dịch vụ tăng 15. - Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2006 – 2009 là 24,8%/năm, khá cao so với cả nước, trong đó: Ngành nông lâm thủy sản tăng 16,8%, công nghiệp – xây dựng tăng 25,6%, thương mại dịch vụ tăng 29,2%. - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên về cơ bản nền kinh tế Bình Thuận vẫn là nông nghiệp với trình độ phát triển tương đối thấp.
- Nền kinh tế phát triển không đồng đều, tốc độ phát triển nhanh tập trung ở các khu vực thành phố Phan Thiết, TX. La Gi, các thị trấn, vùng ven các trục giao thông, có điều kiện thuận lợi, còn vùng sâu vùng xa phát triển chậm. - Đến cuối tháng 10/2010, tổng số dự án còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh là 1.109 dự án với tổng vốn đăng ký 116.150 tỷ đồng; trong đó có 79 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 1.2: Tổng GDP và cơ cấu kinh tế của tỉnh giai đoạn 2006 – 2009 Đơn vị: Tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng TT Hạng mục 2006 2007 2008 2009 GDP giai đoạn 2006 – 2009 (%) I GDP theo giá hiện hành 10.791 24,8 1 Nông lâm thủy sản 2.473 16,8 2 Công nghiệp – xây dựng 3.808 25,6 3 Thương mại dịch vụ 3.510 29,2 Cơ cấu GDP theo giá hiện II 100 100 100 100 hành 1 Nông lâm thủy sản 27,5 25,6 24,1 22,6 2 Công nghiệp – xây dựng 33,7 33,7 34,0 34,4 3 Thương mại dịch vụ 38,7 40,7 41,9 43,0 Tình hình hoạt động của các ngành kinh tế xã hội trong tỉnh: Về Nông nghiệp: Nông nghiệp phát triển khá và tương đối toàn diện. Đã tập trung chỉ đạo mùa vụ sản xuất, phát huy tốt các công trình thủy lợi được đầu tư và thực hiện các giải pháp chống hạn kịp thời nên sản lựợng lương thực vượt kế hoạch.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng tiếp tục có chuyển biến, một số cây trồng lợi thế tăng trưởng ổn định, đã tập trung triển khai chủ trương sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP. Về Lâm nghiệp: Lâm nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng xã hội hóa; trồng rừng được đẩy mạnh, công tác bảo vệ rừng, chống phá rừng được 11 tăng cường và tập trung vào các vùng trọng điểm, hạn chế đáng kể tình trạng phá rừng và lấn chiếm đất rừng. Đạt được kết quả nhất định, nhất là trong công tác trồng rừng. Diện tích rừng trồng tập trung đến năm 2010 có giảm so với năm 2005 là 55.
Như nhờ áp dụng các giải pháp kỹ thuật, quy trình trồng rừng được nghiên cứu tổng kết đưa vào áp dụng đã nâng dần tỷ lệ sống và thành rừng lên cao (80 – 95%). Về Thủy sản: Được xác định là một ngành kinh tế quan trọng của Tỉnh, cơ sở hạ tầng nghề cá được chú ý đầu tư xây dựng, cùng chính sách khuyến khích về thuế, hỗ trợ vốn tín dụng đầu tư đánh bắt xa bờ của Chính phủ là động lực thúc đẩy phát triển năng lực khai thác hải sản của tỉnh trong thời kỳ qua. Về Công nghiệp: Phát triển công nghiệp được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của Bình Thuận. Tỉnh cũng ban hành nhiều chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư, nhằm tạo sự bứt phá trong phát triển kinh tế tỉnh nhà.
Tính đến nay, toàn tỉnh Bình Thuận có 8 KCN với tổng diện tích trên 4.