Đặt vấn đề a) Tóm tắt báo cáo tự đánh giá Đào tạo cử nhân tại Trường Đại học có ý nghĩa quan trọng đối với nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước, quyết định chất lượng của sự phát triển xã hội. Trường Đại học ngân hàng TP. Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo thuộc khối kinh doanh, quản lý nên thường xuyên đạt ra vấn đê chất lượng đào tạo với các chương trình đào tạo của Trường. Khoa Luật kinh tế tham gia vào hoạt động đào tạo cử nhân Luật kinh tế, đặt cho mình nhiệm vụ cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên nghiệp.
Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo là yêu cầu khách quan của xã hội, trong đó, Chương trình đào tạo mang yếu tố quyết định đầu tiên, làm nền tảng để xây dựng mục đích đào tạo. Quá trình tự đánh giá chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp cho Khoa nhìn nhận lại những điểm tồn tại để khắc phục và hướng tới phát triển chương trình, đào tạo và kiểm soát quá trình đào tạo tốt hơn. Để thực hiện hoạt động tự đánh giá chương trình đào tạo ngành Luật kinh tế, Trường đã thành lập hội đồng tự đánh giá theo Quyết định 367/QĐ-ĐHNH ngày 24/02/2022 của Hiệu trưởng trường Đại học Ngân hàng Tp. Việc đánh giá CTĐT ngành Luật kinh tế đã được Trường thực hiện dự trên các tiêu chuẩn, tiêu chí trong bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục và đào tạo (được ban hành kèm theo Thông tư 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14/3/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) Cấu trúc của Báo cáo gồm 4 phần: Phần I: khái quát, mô tả ngắn gọn mục đích, quy trình tự đánh giá, phương pháp, công cụ đánh giá.
Phần II: phần tự đánh giá cụ thể các tiêu chuẩn, các tiêu chí theo đúng hướng dẫn của Bộ. Phần III: Kết luận Phần IV: Phụ lục 1 Nội dung chính của Báo cáo tự đánh giá CTĐT ngành Luật kinh tế được đánh giá dự trên 11 tiêu chuẩn (50 tiêu chí). Các tiêu chuẩn 1-4 tập trung và mục tiêu, chuẩn đầu ra, bản mô tả CTĐT, cấu trúc, nội dung chương trình. Tiêu chuẩn 6,7 liên quan việc tự đánh giá về đội ngũ giảng viên, nhân viên; tiêu chuẩn 8 đánh giá các yếu tố liên quan đến người học và hoạt động hỗ trợ học; tiêu chuẩn 9 gắn với các vấn đề cơ sở vật chất và trang thiết bị; tiêu chuẩn 10 nêu lên nhận định để nâng cáo chất lượng chương trình; tiêu chuẩn 11 đánh giá các kết quả đạt được của cả CTĐT Luật kinh tế trong chu kỳ đánh giá.
Mỗi tiêu chí sẽ được chứng minh bằng hệ thống minh chứng kèm theo (toàn bộ minh chứng được số hóa và có thể truy cập, lấy về theo đường link https://drive.com/drive/u/1/folders/1rLDhGPodhs6LiHJCB9Ec8cIiPrRTHT9Q). Minh chứng được mã hóa (đổi tên file gốc) bằng ký tự và số. mã thông tin và minh chứng được ký hiệu bằng chuỗi có từ 11 ký tự và dấm chấm (.) theo nguyên tắc sau: “Hn.ef” - “H”: viết tắt của hộp minh chứng (mỗi tiêu chuẩn sẽ có 1 hộp từ 1 đến 11). - “n” số thứ tự của hộp minh chứng đánh số từ 1 đến 11 tương ứng với 11 tiêu chuẩn.
- “ab” là số thứ tự của tiêu chuẩn, đánh số từ 01 đến 11. - “cd” là số thứ tự của tiêu chí - “ef” là số thự tự của minh chứng Ví dụ: H4.05: hiểu là minh chứng số 5 của tiêu chí 2 thuộc tiêu chuẩn 4 và được đặt trong hộp minh chứng 4. b) Mô tả mục đích, quy trình tự đánh giá chương trình đào tạo, phương pháp và công cụ đánh giá Mục đích tự đánh giá: Thông qua quá trình tự đánh giá, dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục các trình độ giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ban hành kèm theo Thông tư 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14 tháng 03 năm 2016, ngành Luật kinh tế được rà soát, xem xét, đánh giá thực trạng của CTĐT; nắm rõ được tình trạng chất lượng đào tạo, 2 NCKH, nhân lực, cơ sở vật chất và các vấn đề liên quan khác để từ đó tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đạt tiêu chuẩn chất lượng đào tạo cũng như giải trình với các cơ quan chức năng, xã hội về thực trạng chất lượng đào tạo của từng chương trình cụ thể. Bên cạnh đó, nhờ quá trình tự đánh giá, Trường xác định được các điểm mạnh, điểm hạn chế của CTĐT.
Đây là cơ sở để lập kế hoạch hành động cụ thể nhằm cải tiến, khắc phục những hạn chế này. Mặt khác, hoạt động tự đánh giá còn thể hiện tính tự chủ và tính chịu trách nhiệm của Khoa đào tạo trong toàn bộ hoạt động đào tạo, NCKH, dịch vụ xã hội theo chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với sứ mạng, định hướng của trường. Bên cạnh đó, việc phân tích, so sánh các tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định chất lượng ngành đào tạo và xác định mức độ đạt được đối với từng tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định sẽ là cơ sở để Trường đăng kí kiểm định chất lượng CTĐT với cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục. Nhờ hoạt động tự đánh giá, các nhà tuyển dụng có một cơ sở tin cậy để tìm kiếm nguồn nhân lực đảm bảo chất lượng.
3 Quy trình tự đánh giá: gồm các bước - Bước 1: Thành lập Hội đồng tự đánh giá chất lượng CTĐT ngành Luật kinh tế Hội đồng tự đánh giá chất lượng CTĐT ngành Luật kinh tế được thành lập theo Quyết định 367/QĐ-ĐHNH ngày 24/02/2022 của Hiệu trưởng trường Đại học Ngân hàng Tp. - Bước 2: Lập kế hoạch tự đánh giá chất lượng CTĐT ngành Luật kinh tế Sau khi có quyết định thành lập Hội đồng tự đánh giá CTĐT ngành Luật kinh tế, trường đã ban hành Kế hoạch tự đánh giá CTĐT ngành Luật kinh tế và thành lập các nhóm chuyên trách phụ trách các tiêu chuẩn khác nhau. - Bước 3: Phân tích tiêu chí, thu thập thông tin và minh chứng Sau khi được thành lập, các nhóm chuyên trách và thành viên của nhóm đã được phân công công việc cụ thể và được tập huấn về viết báo cáo tự đánh giá CTĐT. Căn cứ vào các văn bản liên quan và trên cơ sở nhiệm vụ được giao, các nhóm đã nghiên cứu, phân tích tiêu chí và tiến hành thu thập các minh chứng.
Việc thu thập minh chứng đã được sự hỗ trợ nhiệt tình của các phòng, ban liên quan. - Bước 4: Xử lí, phân tích các thông tin, minh chứng thu được Trên cơ sở các minh chứng đã thu thập được, các nhóm chuyên trách đã tiến hành phân tích và xử lý các thông tin, tham chiếu với các văn bản hướng dẫn để đánh giá, nhận xét và chuẩn bị cho việc viết báo cáo tự đánh giá. - Bước 5: Viết dự thảo báo cáo tự đánh giá Viết báo cáo tự đánh giá được thực hiện từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 7 năm 2022. Về kết cấu, Báo cáo tự đánh giá được trình bày theo thứ tự từ tiêu chuẩn 1 đến tiêu chuẩn 11.
Mỗi tiêu chuẩn được giá theo thứ tự các tiêu chí với các nội dung chính bao gồm: 1. Điểm tồn tại; 4. Kế hoạch kế hoạch hành động; 5. Tự đánh giá - Bước 6.
Góp ý, chỉnh sửa các báo cáo tự đánh giá 4 Bản dự thảo báo cáo được gửi về cho các bộ môn, phòng ban để nhận góp ý, đối chiếu dữ liệu. Bước này giúp cho báo cáo khách quan và phản ánh đầy đủ hoạt động hỗ trợ của các phòng ban. Hoàn thiện các báo cáo tự đánh giá, phổ biến báo cáo tự đánh giá và chuẩn bị đánh giá ngoài chính chức Sau khi nhận được các góp ý, nhóm báo cáo tự đánh giá sẽ soát xét và hoàn chỉnh bản báo cáo tự đánh giá chương trình đào tạo chính thức để chuẩn bị tự đánh giá cấp trường. Phương pháp và công cụ tự đánh giá Việc tự đánh giá CTĐT ngành Luật kinh tế được thực hiện căn cứ theo Thông tư 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14/03/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Công văn hướng dẫn số 1074/KTKĐCLGD-KĐĐH và số 1075/KTKĐCLGD-KĐĐH và Công văn số 1669/QLCL-KĐCLGD ngày 31/12/2019 về hướng dẫn đánh giá theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CTĐT của Cục Quản lí chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trên cơ sở thu thập thông tin, thu thập minh chứng, viết báo cáo tiêu chuẩn, viết dự thảo báo cáo tổng hợp, duyệt dự thảo báo cáo, lưu giữ minh chứng… các cán bộ phụ trách chính công tác kiểm định đã tổng hợp thông tin, xử lí thông tin và phân tích thông tin đã thu thập và hoàn thiện báo cáo. Tổng quan chung a) Khái quát về Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM Ngày 16/12/1976, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Trung ương) ban hành Quyết định số 1229/NH-TCCB thành lập Trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng - Cơ sở II TP. Hồ Chí Minh với nhiệm vụ đào tạo hệ đại học chuyên tu và tại chức cho ngành. Ngày 03/05/1980, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 149/QĐ-TTg cho phép đào tạo đại học hệ chính qui tập trung chuyên ngành ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 29/11/1986, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định 169/NH-QĐ quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy và đổi tên Trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng - Cơ sở II Thành phố Hồ Chí Minh thành Trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân 5 hàng - Thành phố Hồ Chí Minh, với nhiệm vụ tiếp tục đào tạo hệ đại học chuyên tu, tại chức và đại học chính quy cho ngành khu vực phía Nam. Ngày 23/03/1993, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 112/QĐ-TTg thành lập Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, với mục tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành. Trường Trung học Ngân hàng III Trung ương sáp nhập với Trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh và đổi tên thành Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng - Chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh.
Ngày 09/02/1998, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 30/1998/QĐ-TTg thành lập Học viện Ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh được đổi tên thành Học viện Ngân hàng - Phân viện Tp. Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ đào tạo cao đẳng, đại học tại chức, đại học chính quy tập trung và sau đại học chuyên ngành Ngân hàng khu vực phía Nam.