Đặt vấn đề Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của cuộc sống và môi trường. Quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước. Việt Nam là quốc gia có hệ thống sông ngòi dày đặc và có nhiều LVS lớn. Tổng lượng dòng chảy nước mặt hàng năm hàng năm lên đến 830-840tỷ m3.
Nhưng Việt Nam không phải là quốc gia giàu về nước. Tài nguyên nước của nước ta phụ thuộc nhiều vào các nước có chung nước phía thượng lưu, với gần 2/3 tổng lượng nước mặt hằng năm là từ ngoài biên giới chảy vào (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013). Ngày nay, hầu hết các con sông ở Việt Nam đang có chiều hướng ngày càng bị suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt bởi nhiều nguyên nhân. Nhất là các con sông ở các khu vực thành phố phải chịu áp lực từ các khu công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư.
Những nguồn tác động này đã và đang làm cho chất lượng nước bị suy giảm về trữ lượng cùng chất lượng. Sông Hồng là một trong những sông chính của Việt Nam, chảy qua vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường phong phú và đa dạng, có vị thế địa lý kéo dài cả về chiều ngang và chiều dọc trên nhiều tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định. Trong đó một số tỉnh đã sử dụng trực tiếp nguồn nước sông trong lưu vực làm nước cung cấp sinh hoạt. Không nằm ngoài ảnh hưởng của ô nhiễm, trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội những năm gần đây, dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, môi trường nước sông Hồng đã và đang có hiện tượng ô nhiễm nguồn nước.
Nhiều vấn đề môi trường đang diễn ra rất phức tạp ở quy mô địa phương và toàn lưu vực. Mặt khác, sông Hồng còn tiếp nhận nước từ phía thượng lưu Trung Quốc chảy sang. Quá trình thải bỏ các chất thải có nguồn gốc từ công nghiệp, 2 nông nghiệp, sinh hoạt và quá trình rửa trôi bề mặt, xói mòn lưu vực sông Hồng phía Trung Quốc sẽ làm tăng nguy cơ vận chuyển các chất ô nhiễm vào sông Hồng.Vấn đề đặt ra ở đây là chất lượng nước sông Hồng đang ngày càng suy giảm do ô nhiễm xuyên biên giới và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Theo số liệu quan trắc gần đây cho thấy, chất lượng nước sông Hồng đang diễn biến khá phức tạp, chất lượng nước dần đang suy thoái, ô nhiễm hơn theo từng năm.
Mặt khác ngày nay, cùng với sức ép gia tăng dấn số, nhu cầu sử dụng nước càng tăng, do đó chất lượng nước hiện tại có đáp ứng được nhu cầu sử dụng hay không? Đó là câu hỏi đặt ra, hiện nay chất lượng nước Hồng có đảm bảo phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân hay không? Và những nhà quản lý môi trường phải làm gì để quản lý hiệu quả chất lượng nước sông Hồng? Xuất phát từ vấn đề đó, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng nước sông Hồng đoạn chảy qua tỉnh Lào Cai và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát - Đánh giá chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua tỉnh Lào Cai và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm. Mục tiêu cụ thể - Xác định được các áp lực đối với chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua tỉnh Lào Cai. - Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần quản lý chất lượng nước sông Hồng trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Yêu cầu của đề tài - Khảo sát thực trạng môi trường nước sông Hồng đoạn chảy qua tỉnh Lào Cai - Đánh giá một cách trung thực, khách quan chất lượng nước mặt sông Hồng chảy qua tỉnh Lào Cai. - Các thông tin, số liệu thu thập phải phản ánh được chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Lào Cai.
- Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần đánh giá chất lượng nước mặt sông Hồng trên địa bàn tỉnh Lào Cai, chỉ ra được những vị trí ô nhiễm, để có những biện pháp xử lý phù hợp cho từng mục đích sử dụng. - Là cơ sở giúp các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường đưa ra các biện pháp xử lý cũng như quản lý nhằm nâng cao chất lượng nước mặt sông Hồng trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho cộng đồng dân cư. Ý nghĩa học tập - Nâng cao kiến thức, kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Tạo cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế, cách thức tiếp cận và thực hiện một đề tài. - Là nguồn tài liệu trong học tập và nghiên cứu khoa học.
- Nâng cao nhận thức của bản thân về môi trường. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2.
Một số khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, khái quát chung về nước, ô nhiễm môi trường nước, tiêu chuẩn môi trường - Khái niệm môi trường: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường, 2014). - Khái niệm ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường, 2014) .- Khái quát chung về nước: Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt.
97% nước trên Trái đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên Trái đất và trong không khí[8]. Nước còn được đưa vào cơ thể con người nhiều nguyên tố cần thiết cho sự sống như iốt (I), sắt (Fe), kẽm (Zn)… Tuy nhiên nước bẩn cũng có thể đưa vào cơ thể nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Nước bẩn chứa nhiều các chất độc hại như 5 chì (Pb), thủy ngân (Hg), thạch tín (Asen), thuốc trừ sâu, các hóa chất gây ung thư khác.
Do đó, nước dùng cho cuộc sống phải đủ về số lượng và đảm bảo an toàn chất lượng. Con người cần biết xử lý các nguồn cung cấp nước để đảm bảo an toàn về chất lượng cho mọi nhu cầu sinh hoạt và sản xuất công, nông nghiệp cho chính mình, đồng thời giải quyết hậu quả của chính mình[8]. - Khái niệm ô nhiễm môi trường nước: Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên gắn liền với sự sống của sinh vật, đang ngày càng giảm chất lượng do chính hoạt động nhiều mặt của con người gây ra. Khoa học kỹ thuật phát triển đã thúc đẩy quá trình sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu của con người.
Song song với việc tạo ra của cải vật chất thì một lượng chất thải cũng được hình thành. Các chất thải này được thải vào sông, suối, ao, hồ, biển, vào đất, không khí. Vì vậy, trong nước có thành phần của các loại chất thải làm cho nước không còn sạch nữa, giá trị sử dụng suy giảm và người ta nói rằng nước bị ô nhiễm. Ô nhiễm nước không chỉ là vẫn đề mĩ quan mà nó còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, sức khỏe con người và về vệ sinh môi trường.
Ô nhiễm nước được hiểu là: Ô nhiễm nước là sự thay đối thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật. Hay, Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm,…bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Theo Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: “ Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loại hoang dã”[1]. 6 - Khái niệm nước mặt: Là nước phân bố trên mặt đất, nước trong các đại dương, sông, suối, ao, hồ, đầm lầy.
Đặc điểm của tài nguyên nước mặt là chịu ảnh hưởng lớn từ điều kiện khí hậu và các tác động khác do hoạt động kinh tế của con người, nước mặt dễ bị ô nhiễm và thành phần hóa lý của nước thường bị thay đổi, khả năng hồi phục trữ lượng của nước nhanh nhất ở vùng có mưa[4]. - Khái niệm về tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2014: “ Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.” Vì vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học liên ngành, nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế - xã hội có tính đến dự báo phát triển. Cơ cấu của hệ thống tiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm chính sau: + Tiêu chuẩn nước bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước biển và ven biển, nước thải… + Tiêu chuẩn không khí bao gồm khó bụi, khí thải (các chất thải)… + Tiêu chuẩn về bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ.
+ Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ các nguồn gen, động thực vật, đa dạng sinh học. + Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn hóa[7].