MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước là tài nguyên vô cùng quan trọng đối với sự sống của con người và toàn bộ sinh vật trên Trái đất. Nước tham gia vào các hoạt động sống cũng như hoạt động sản xuất của con người. Cùng với quá trình phát triển của xã hội, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa làm tăng nhu cầu sử dụng nước và xả thải ra môi trường một lượng chất thải rất lớn.
Hơn nữa, sự bùng nổ dân số khiến cho nhu cầu về nguồn nước ngày càng cao, con người càng phải khai thác triệt để nguồn nước nhằm phục vụ hoạt động sống của mình. Sự khai thác tràn lan và xả ra môi trường lượng chất thải chưa qua xử lý đã dẫn đến tình trạng khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước. Ở nước ta, các lưu vực sông lớn như: lưu vực sông Cầu, lưu vực sông Nhuệ - Đáy, lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Các lưu vực sông đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về chất lượng cũng như trữ lượng, nhiều con sông có nguy cơ trở thành sông chết.
Lưu vực sông Đáy là một trong những lưu vực sông lớn của Việt Nam; có vị trí địa lý đặc biệt, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng. Lưu vực có diện tích tự nhiên 7.665 km2; tổng lượng nước hàng năm khoảng 28,8 tỷ m3; chảy qua 5 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình, với dân số khoảng 10,77 triệu người. Tuy nhiên, lưu vực sông này hiện đang là một trong ba điểm nóng về Tài nguyên nước ở nước ta. Nguồn nước của hai con sông này đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị, làng nghề, công nghiệp, dịch vụ; đặc biệt nước thải công nghiệp và sinh hoạt, y tế không qua xử lý đổ trực tiếp ra sông.
Hiện trạng môi trường nước của lưu vực sông Đáy vẫn đang diễn biến phức tạp, ngày càng xấu đi. Lưu vực sông Đáy có rất nhiều khu công nghiệp và các ngành kinh tế khác phát triển mạnh mẽ đã thải ra rất nhiều chất thải gây ô nhiễm nguồn n 2 nước. Vì vậy, việc đề xuất mạng giám sát chất lượng nước lưu vực sông Đáy là cần thiết nhằm: - Thu thập thông tin, số liệu chất lượng nước có hệ thống nhằm thống nhất vị trí đo đạc chất lượng nước; - Chuẩn hoá thông tin, dữ liệu chất lượng nước, phục vụ công tác đánh giá, kiểm soát và dự báo ô nhiễm nước. Xuất phát từ những lý do trên đề tài: Đánh giá hiện trạng chất lượng nước lưu vực sông đáy đoạn chảy qua Hà Nội và đề xuất giải pháp quản lý được thực hiện.
Mục tiêu yêu cầu và ý nghĩa của nghiên cứu Mục tiêu. - Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội. - Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản lý môi trường nước lưu vực sông Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội. - Các số liệu thu thập được phải đảm bảo độ chính xác và tin cậy.
- Chỉ ra được những điểm nổi bật trong hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội. - Chỉ ra được những mặt hạn chế và tích cực của công tác quản lý môi trường nước lưu vực sông Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội. - Đưa ra được các giải pháp mang tính khả thi, phù hợp với địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Đánh giá được hiện trạng ô nhiễm môi trường nước và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Đáy đoạn chảy qua địa phận hà nội.
Về khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài khẳng định tính hiệu quả của các phương pháp nghiên cứu và đánh giá tài nguyên nước. Là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu, điều tra và quy hoạch, khai thác và sử dụng tài nguyên nước. n 3 Về thực tiễn: Là cơ sở vững chắc, cung cấp tư liệu cho việc đề xuất các biện pháp quản lý và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước Đề xuất được một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm tài nguyên nước lưu vực sông Đáy (đoạn chảy qua hà nội) và khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước thuộc khu vực nghiên cứu Giúp sinh viên có thêm có những hiểu biết về hiện trạng chất lượng nguồn nước mặt ngày càng đang bị ô nhiễm bởi các tác động của con người. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nước, tiêu chuẩn môi trường. - Khái niệm môi trường: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” (Luật Bảo vệ môi trường, 2005) - Khái niệm ô nhiễm môi trường: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” (Luật Bảo vệ môi trường, 2005) - Khái niệm ô nhiễm môi trường nước: “Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi của các tính chất vật lý - hóa học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh học trong nước.
Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất” - Khái niệm về tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2005: “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”.2 Đánh giá chất lượng nước Theo Escap (1994), chất lượng nước được đánh giá bởi các thông số, các chỉ tiêu đó là: - Các thông số lý học: n 5 + Nhiệt độ: Nhiệt độ tác động tới các quá trình sinh hóa diễn ra trong nguồn nước tự nhiên, sự thay đổi về nhiệt độ sẽ kéo theo các thay đổi về chất lượng nước, tốc độ, dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hòa tan. + pH: Là chỉ số thể hiện axit hay bazơ của nước, là yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vi sinh vật trong nước. Trong lĩnh vực cấp nước, pH là yếu tố phải xem xét trong quá trình đọng tụ hóa học, sát trùng làm mềm nước, kiểm soát sự ăn mòn. Trong hệ thống xử lý nước thải bằng quá trình sinh học thì pH phải được khống chế trong phạm vi thích hợp đối với các loại vi sinh vật có liên quan.
- Các thông số hóa học: + BOD: Là lượng oxy cần thiết cung cấp để vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian. + COD: Là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóa học trong nước. + NO2: Là sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy các chất có chứa nitơ trong nước thải. + Các yếu tố KLN: Các kim loại nặng là những yếu tố mà tỉ trọng của chúng lớn hơn 5 như Asen, Cacdimi, Fe, Mn v.
ở hàm lượng nhỏ nhất định chúng cần thiết cho sự phát triển và sinh trưởng của động vật, thực vật nhưng khi hàm lượng tăng thì chúng sẽ trở thành độc hại đối với sinh vật và con người thông qua chuỗi mắt xích thức ăn. - Các thông số sinh học: + Coliform: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường, xác định mức độ ô nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nước. Khái niệm nước thải và nguồn nước thải - Khái niệm nước thải: “Nước thải là nước đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó” (QCVN 08:2008). - Khái niệm nguồn nước thải: Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng: n 6 + Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác.
+ Nước thải công nghiệp (nước thải sản xuất): là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu. + Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí. + Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng + Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã; đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên. Cơ sở pháp lý - Luật số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội về bảo vệ môi trường.
- Luật tài nguyên nước năm 2012 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Bảo vệ môi trường. - Nghị định số 21/2008/NĐ-CP Sửa đổi bổ xung nghị định 80/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của luật Bảo vệ môi trường. - Nghị định 120/2008/NĐ-CP ngày 01/12/2008 của Chính phủ về quản lý lưu vực sông.
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường. - Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. n 7 - Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/04/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”. - QCVN 08: 2008/BTNMT, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.