Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Cầu giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong hệ thống sông Thái Bình với tổng diện tích lưu vực đạt 6.030 km2 và chiều dài dòng chính lên đến 288,5 km. Đoạn sông chảy qua địa phận tỉnh Thái Nguyên đóng vai trò huyết mạch cung cấp nguồn nước thiết yếu cho sinh hoạt dân sinh, sản xuất nông nghiệp và các tổ hợp công nghiệp luyện kim, khai khoáng trọng điểm của vùng trung du miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, trước sức ép từ tốc độ gia tăng dân số và sự phát triển mạnh mẽ của hơn 500 doanh nghiệp cùng 20 khu công nghiệp trên toàn lưu vực, môi trường nước mặt sông Cầu đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự suy thoái nhanh chóng của chất lượng nước mặt và tình trạng mất an ninh nguồn nước tại địa phương. Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện diễn biến chất lượng nước sông Cầu giai đoạn 2016 - 2018 dựa trên 10 thông số quan trắc lý hóa học, xác định các nguồn xả thải chính và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của chúng. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian gồm 8 vị trí quan trắc dọc theo dòng chính sông Cầu qua tỉnh Thái Nguyên từ huyện Đồng Hỷ đến thị xã Phổ Yên trong giai đoạn từ tháng 6/2018 đến tháng 9/2019.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện ở việc áp dụng bộ chỉ số chất lượng nước tổng hợp WQI nhằm chuyển đổi các dữ liệu quan trắc phức tạp thành thang đo định lượng trực quan. Kết quả nghiên cứu chứng minh chất lượng nước đã suy giảm rõ rệt khi chỉ số WQI giảm từ mức 74 - 96 trong năm 2016 xuống còn 47 - 70 vào năm 2018. Công trình cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp các nhà quản lý khoanh vùng ô nhiễm, phân bổ hạn ngạch xả thải cho hơn 103 triệu m3 nước thải phát sinh mỗi năm, bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế bền vững gắn liền với bảo vệ tài nguyên nước mặt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý tài nguyên nước tích hợp (IWRM) và lý thuyết về khả năng tự làm sạch của các hệ sinh thái nước ngọt tự nhiên. Quá trình đánh giá được thực hiện thông qua mô hình tính toán chỉ số chất lượng nước tổng hợp WQI ban hành theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT năm 2011 và Quyết định số 711/QĐ-TCMT năm 2015 của Tổng cục Môi trường. Khung lý thuyết này tích hợp hệ thống trọng số của các nhóm thông số vật lý, hóa học và dinh dưỡng nhằm phân hạng chất lượng nước thành 5 mức độ từ ô nhiễm nặng (WQI từ 0 - 25) đến chất lượng rất tốt (WQI từ 91 - 100).

Nghiên cứu tập trung vào các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: Tải lượng ô nhiễm (lượng chất bẩn xả vào nguồn tiếp nhận trong một đơn vị thời gian), Tổng chất rắn lơ lửng (TSS biểu thị nồng độ hạt huyền phù không tan), Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5 đo lượng oxy cần thiết để vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ), Nhu cầu oxy hóa học (COD biểu thị lượng oxy cần thiết để oxy hóa toàn bộ các hợp chất trong nước) và Khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước mặt. Kết quả phân tích được đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2015/BTNMT theo các phân hạng A1, A2, B1, B2 và Quy chuẩn nước thải công nghiệp QCVN 40:2011/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp thu thập từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên và các báo cáo hiện trạng môi trường lưu vực sông Cầu, kết hợp nguồn dữ liệu thực nghiệm quan trắc trực tiếp.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 120 mẫu nước mặt tổ hợp được thu thập định kỳ qua 15 đợt lấy mẫu trong 3 năm (2016 - 2018). Mỗi năm tiến hành 5 đợt quan trắc gồm 2 đợt vào mùa mưa (tháng 6 và tháng 9) cùng 3 đợt vào mùa khô (tháng 10, tháng 12 và tháng 3) tại 8 vị trí quan trắc cố định: Văn Lăng, Hòa Bình, Sơn Cẩm, Hoàng Văn Thụ, Cầu Gia Bảy, Đập Thác Đuống, Cầu Trà Vườn, Cầu Mây và Tân Phú. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật lấy mẫu tổ hợp trên mặt cắt ngang theo các tiêu chuẩn TCVN 6663-1:2011 và TCVN 6663-6:2018. Tại mỗi trạm, mẫu được thu thập tại 3 điểm phân bố đều gồm bờ trái, bờ phải và giữa dòng để tạo thành một mẫu đại diện đồng nhất, triệt tiêu sai số do phân tầng thủy lực dòng chảy.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích phòng thí nghiệm kết hợp mô hình WQI là nhằm bảo đảm tính pháp lý và độ chuẩn xác khoa học cao nhất. Các thông số pH, DO, nhiệt độ và độ đục được đo nhanh tại hiện trường theo Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT. Các thông số phức tạp như TSS (phương pháp SMEWW 2540D), COD (phương pháp SMEWW 5220C), BOD5 (phương pháp SMEWW 5210B), N-NH4+ (TCVN 6179-1:1996), P-PO43- (SMEWW 4500P-E) và Kim loại nặng Fe (phương pháp EPA Method 6020A) được phân tích trong phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025. Phương pháp này cho phép tổng hợp đồng thời 10 thông số độc lập thành một giá trị định lượng duy nhất, giúp phản ánh chân thực hiện trạng ô nhiễm theo không gian và thời gian.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chất lượng nước sông Cầu đoạn qua tỉnh Thái Nguyên suy giảm rõ rệt và liên tục trong giai đoạn 2016 - 2018. Chỉ số WQI trung bình toàn đoạn sông năm 2016 đạt mức 74 - 96 (chất lượng tốt, đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt sau khi xử lý thông thường). Đến năm 2017, WQI giảm xuống khoảng 51 - 84. Đặc biệt vào năm 2018, chỉ số WQI giảm mạnh xuống mức 47 - 70, khiến 100% các điểm quan trắc trên dòng chính không còn vị trí nào đáp ứng tiêu chuẩn nước cấp cho sinh hoạt (loại A theo QCVN 08:2015/BTNMT) mà chỉ có thể dùng cho tưới tiêu nông nghiệp hoặc giao thông thủy.

Thứ hai, hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và kim loại Sắt (Fe) ghi nhận sự gia tăng vượt ngưỡng nghiêm trọng. Năm 2016, toàn bộ 8 điểm quan trắc đều có TSS vượt giới hạn A1 (20 mg/l). Năm 2017, hai điểm nóng ô nhiễm ghi nhận nồng độ TSS cao là Hòa Bình với 94 mg/l và Sơn Cẩm với 92,66 mg/l. Đến năm 2018, nồng độ TSS bùng nổ tại hầu hết các trạm, trong đó điểm Tân Phú ở hạ lưu đạt giá trị trung bình 266,8 mg/l, vượt 5,3 lần giới hạn B1 (50 mg/l) và gấp 2,66 lần ngưỡng B2 (100 mg/l). Nồng độ Fe tại các điểm chịu ảnh hưởng xả thải luyện kim cũng vượt ngưỡng 1,5 - 2,0 mg/l.

Thứ ba, cơ cấu phát sinh chất thải của tỉnh Thái Nguyên tạo áp lực cực lớn lên nguồn nước mặt với tổng lưu lượng nước thải phát sinh ước tính đạt 103.467.000 m3/năm. Trong đó, nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 38.712.000 m3/năm (tương đương 37,4%) và nước thải từ hoạt động khai thác khoáng sản chiếm 29.229.000 m3/năm (chiếm 28,2%). Nước thải tuyển quặng từ các mỏ than, sắt và thiếc mang theo lượng bùn đất có hàm lượng chất rắn lơ lửng lên tới 400 mg/l xả trực tiếp vào lưu vực.

Thứ tư, nghiên cứu đã phân vùng thành công lưu vực sông Cầu qua địa bàn tỉnh thành 3 đoạn đặc thù: Đoạn 1 (từ ranh giới Bắc Kạn đến trước thành phố Thái Nguyên) chịu ô nhiễm từ khai thác khoáng sản nhỏ lẻ và sản xuất xi măng; Đoạn 2 (chảy qua thành phố Thái Nguyên) tiếp nhận nước thải sinh hoạt đô thị, nước thải chế biến kim loại màu và nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ với nồng độ COD, BOD5 vượt tiêu chuẩn hơn 10 lần; Đoạn 3 (từ sau thành phố Thái Nguyên đến giáp Bắc Giang) chịu tải lượng cộng dồn từ các khu công nghiệp tập trung và phụ lưu sông Công.

Thảo luận kết quả

Để trực quan hóa toàn bộ khối dữ liệu quan trắc đa chiều, các kết quả nghiên cứu có thể được thể hiện hiệu quả nhất thông qua hai hình thức đồ họa: Biểu đồ đường đa trục biểu diễn tương quan biến thiên giữa chỉ số WQI và nồng độ TSS, Fe dọc theo 8 trạm quan trắc qua các năm 2016, 2017, 2018; kết hợp với Bảng phân vùng chất lượng nước mô tả mức độ ô nhiễm theo 5 dải màu quy chuẩn từ xanh lam sang đỏ cam.

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường nước bắt nguồn từ tốc độ công nghiệp hóa nhanh nhưng hạ tầng xử lý nước thải không theo kịp. Theo thống kê, trên toàn lưu vực sông Cầu có 49 nguồn xả thải ô nhiễm trọng điểm, trong khi tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị và công nghiệp được xử lý đạt chuẩn còn rất thấp. Toàn lưu vực mới chỉ có 7 nhà máy xử lý nước thải tập trung vận hành với công suất 128.500 m3/ngày đêm, chỉ đạt 25,75% so với mục tiêu 499.000 m3/ngày đêm theo Quy hoạch 228 của Thủ tướng Chính phủ.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, hiện trạng ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng tại sông Cầu tương đồng với diễn biến suy thoái tại nhiều dòng sông lớn ở châu Á, nơi nồng độ chất thải cao gấp 3 lần trung bình toàn cầu. Tại Việt Nam, chỉ số WQI của sông Cầu đoạn hạ lưu (47 - 70) dù cao hơn các dòng sông ô nhiễm nội thành Hà Nội như sông Tô Lịch (WQI từ 6 - 11), nhưng mức độ ô nhiễm kim loại nặng và TSS từ công nghiệp khai khoáng đang đặt hệ sinh thái hạ lưu vào tình trạng báo động đỏ, làm suy giảm khả năng tự làm sạch tự nhiên của dòng chảy.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm khắc phục tình trạng suy thoái chất lượng nước và bảo vệ bền vững tài nguyên nước sông Cầu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm với các chỉ số mục tiêu và lộ trình cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách và kiểm soát cấp phép xả thải dựa trên sức chịu tải môi trường. Ban hành quy chế phối hợp liên tỉnh trong việc kiểm soát lưu vực sông và xây dựng hạn ngạch xả thải chi tiết cho từng cơ sở sản xuất. Mục tiêu cụ thể là giảm 30% tổng tải lượng chất ô nhiễm công nghiệp chưa qua xử lý đổ vào sông Cầu trước năm 2025. Lộ trình thực hiện từ năm 2021 đến 2023, do Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường.

Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng thu gom và nâng công suất các nhà máy xử lý nước thải tập trung. Tập trung nguồn vốn ngân sách và thu hút đầu tư PPP để hoàn thiện hệ thống thoát nước tách riêng cho đô thị loại I và các khu công nghiệp. Đích đến là nâng tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được xử lý đạt quy chuẩn từ mức dưới 30% lên tối thiểu 60% vào năm 2025, nâng tổng công suất xử lý toàn lưu vực đạt trên 300.000 m3/ngày đêm. Lộ trình triển khai giai đoạn 2022 - 2025 do Sở Xây dựng và Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên thực hiện.

Thứ ba, áp dụng công nghệ lắng lọc tuần hoàn và xử lý bắt buộc tại các cơ sở khai thác khoáng sản, luyện kim. Yêu cầu 100% các mỏ than, mỏ sắt và doanh nghiệp luyện kim màu dọc đoạn sông số 1 và số 2 phải xây dựng hồ lắng tuần hoàn nước thải rửa quặng, bảo đảm nồng độ TSS sau xử lý dưới 50 mg/l và Fe dưới 1,5 mg/l trước khi xả ra môi trường. Lộ trình hoàn thành thanh tra và lắp đặt trong giai đoạn 2022 - 2024, do Sở Công Thương phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo.

Thứ tư, thiết lập mạng lưới trạm quan trắc tự động liên tục và nâng cao năng lực giám sát cộng đồng. Lắp đặt thêm 5 trạm quan trắc nước mặt tự động truyền dữ liệu trực tuyến 24/7 tại các điểm nóng xung yếu như Sơn Cẩm, Cầu Trà Vườn và Tân Phú để phát hiện kịp thời các sự cố xả lén. Lộ trình thực hiện từ năm 2022 đến 2024, do Trung tâm Quan trắc Môi trường miền Bắc phối hợp với Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Thái Nguyên vận hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt phù hợp cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Một là, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và quy hoạch đô thị. Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu có thể sử dụng dữ liệu tính toán WQI và bản đồ phân vùng 3 đoạn sông để làm căn cứ phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác định hạn ngạch xả thải và xây dựng kế hoạch thanh tra 49 nguồn xả thải trọng điểm trên địa bàn.

Hai là, ban quản lý các khu công nghiệp và doanh nghiệp khai khoáng, luyện kim. Các tổ hợp công nghiệp gang thép, các mỏ khai thác than, luyện kim màu có thể sử dụng các số liệu thực chứng về tải lượng TSS và Fe để đánh giá lại hiệu quả của hệ thống xử lý nội bộ, từ đó đầu tư công nghệ lắng lọc đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT, tránh các chế tài xử phạt hành chính theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP.

Ba là, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên nước và Kỹ thuật Môi trường. Luận văn cung cấp một tài liệu tham khảo hoàn chỉnh về quy trình kết hợp giữa quan trắc thủy văn đa điểm với mô hình toán WQI 10 thông số theo chuẩn của Tổng cục Môi trường, làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu đánh giá sức chịu tải lưu vực sông.

Bốn là, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư địa phương. Tài liệu cung cấp bức tranh số liệu minh bạch về hiện trạng chất lượng nước mặt, hỗ trợ các tổ chức xã hội xây dựng chương trình truyền thông nâng cao nhận thức bảo vệ nguồn nước và giúp cộng đồng giám sát chất lượng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp tại các huyện Phú Bình, Phổ Yên.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số chất lượng nước WQI của sông Cầu qua Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2018 biến động như thế nào? Chỉ số WQI trung bình suy giảm mạnh qua từng năm. Năm 2016, WQI dao động ở mức tốt từ 74 đến 96; năm 2017 giảm xuống 51 đến 84; và đến năm 2018 chỉ còn 47 đến 70. Sự sụt giảm này khiến toàn bộ các điểm quan trắc trên dòng chính không còn đạt chuẩn cấp nước cho sinh hoạt.

Thông số ô nhiễm nào ghi nhận mức vượt quy chuẩn nghiêm trọng nhất tại khu vực nghiên cứu? Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và hàm lượng Sắt (Fe) là hai thông số ô nhiễm trầm trọng nhất. Năm 2016, 100% điểm quan trắc vượt giới hạn A1. Đến năm 2018, trạm Tân Phú ghi nhận nồng độ TSS trung bình lên tới 266,8 mg/l, vượt 5,3 lần giới hạn B1 theo QCVN 08:2015/BTNMT do ảnh hưởng từ nước thải mỏ.

Tổng lưu lượng nước thải phát sinh tại Thái Nguyên là bao nhiêu và nguồn nào chiếm tỷ trọng lớn nhất? Tổng lưu lượng nước thải phát sinh trên địa bàn đạt 103.467.000 m3/năm. Trong đó, nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp chiếm lớn nhất với 38.712.000 m3/năm (37,4%), tiếp theo là nước thải từ hoạt động khai thác mỏ khoáng sản với 29.229.000 m3/năm (28,2%), chứa hàm lượng TSS và kim loại nặng rất cao.

Luận văn đã phân chia sông Cầu qua Thái Nguyên thành các phân đoạn quản lý môi trường nào? Sông Cầu được phân thành 3 đoạn: Đoạn 1 (từ Bắc Kạn đến trước thành phố Thái Nguyên) chịu tác động từ khai thác khoáng sản và xi măng; Đoạn 2 (qua thành phố Thái Nguyên) chịu áp lực từ đô thị, giấy và luyện kim màu; Đoạn 3 (sau thành phố đến giáp Bắc Giang) chịu tải từ các khu công nghiệp và phụ lưu sông Công.

Vì sao tỷ lệ xử lý nước thải tập trung trên lưu vực sông Cầu hiện nay vẫn đạt mức thấp? Theo Quy hoạch 228 của Thủ tướng Chính phủ, lưu vực sông Cầu cần 20 nhà máy xử lý với tổng công suất thiết kế 499.000 m3/ngày đêm. Tuy nhiên, thực tế mới chỉ có 7 nhà máy vận hành với công suất 128.500 m3/ngày đêm, đạt 25,75% kế hoạch do thiếu hụt nguồn vốn đầu tư và cơ chế huy động xã hội hóa còn hạn chế.

Kết luận

Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trường của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu đánh giá hiện trạng và diễn biến chất lượng nước sông Cầu đoạn qua tỉnh Thái Nguyên với các đóng góp khoa học nổi bật:

  • Định lượng chính xác sự suy thoái chất lượng nước giai đoạn 2016 - 2018 qua 8 trạm quan trắc, ghi nhận chỉ số WQI giảm sâu từ mức 74 - 96 xuống còn 47 - 70.
  • Phát hiện và lượng hóa hai thông số ô nhiễm cốt lõi là TSS (đạt cực đại 266,8 mg/l tại hạ lưu) và Fe từ 29.229.000 m3 nước thải mỏ phát sinh hàng năm.
  • Xây dựng bản đồ phân vùng môi trường nước mặt thành 3 đoạn sông gắn liền với đặc trưng xả thải của hơn 103 triệu m3 nước thải toàn tỉnh.
  • Đánh giá thực trạng hạ tầng xử lý nước thải lưu vực mới chỉ đạt 25,75% công suất quy hoạch với 128.500 m3/ngày đêm.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 nhóm giải pháp kiểm soát ô nhiễm đồng bộ từ công cụ pháp lý, kỹ thuật công nghệ đến kinh tế môi trường giai đoạn 2021 - 2025.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2022 đến 2025, các cơ quan chức năng tỉnh Thái Nguyên cần khẩn trương số hóa dữ liệu quan trắc và triển khai lắp đặt các trạm đo tự động liên tục. Việc áp dụng ngay các khuyến nghị từ công trình nghiên cứu này là chìa khóa để bảo vệ bền vững dòng sông Cầu, bảo đảm an ninh nguồn nước và kiến tạo môi trường sống trong lành cho cộng đồng.