Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nước là yếu tố thiết yếu duy trì sự sống của con người và phục vụ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Theo tác giả trình bày, cơ thể người chứa khoảng 70% trọng lượng là nước, tham gia vào mọi quá trình chuyển hóa, tuần hoàn và trao đổi chất. Đối với thành phố Lạng Sơn – một đô thị miền núi có địa hình karst phức tạp và phân cắt mạnh, nguồn nước mặt phân bố không đồng đều và tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt cục bộ trong mùa khô. Trong giai đoạn nghiên cứu, quá trình đô thị hóa nhanh chóng kết hợp với công tác quản lý môi trường còn hạn chế và ý thức vệ sinh của một bộ phận người dân chưa cao đã dẫn đến tình trạng suy giảm cả về trữ lượng lẫn chất lượng nguồn nước sinh hoạt; một số nguồn nước mặt tại chỗ bị ô nhiễm hữu cơ và phú dưỡng đến mức không thể trực tiếp khai thác cho mục đích sinh hoạt. Nhằm phản ánh hiện trạng và đề xuất giải pháp kỹ thuật, quản lý phù hợp, đề tài "Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu thực trạng sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại thành phố Lạng Sơn.
  2. Đánh giá chất lượng các nguồn nước sinh hoạt chính (nước giếng khoan/giếng đào, nước sông/suối/hồ và nước ngầm cấp qua hệ thống nước máy) trên địa bàn thành phố.
  3. Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm bảo vệ và hạn chế ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt tại địa phương.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:

  • Căn cứ vào các văn bản pháp luật hiện hành (Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Tài nguyên nước năm 2012) cùng hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước để phân tích, đối sánh.
  • Đảm bảo thu thập số liệu khách quan, phản ánh chính xác thực trạng cấp nước và chất lượng nguồn nước.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội thực tế của địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; tập trung khảo sát tại 4 phường nội thành (Chi Lăng, Đông Kinh, Tam Thanh, Hoàng Văn Thụ, Vĩnh Trại) và 2 xã vùng ven (Hoàng Đồng, Mai Pha, Quảng Lạc).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực địa, phỏng vấn và thu thập tài liệu được tiến hành từ ngày 08/01/2015 đến ngày 09/04/2015; kế thừa chuỗi số liệu thống kê năm 2013 và dữ liệu quan trắc đợt 1 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành về chu trình nước, định nghĩa ô nhiễm nước theo Hiến chương châu Âu về nước, khái niệm nước sạch (nước sạch cơ bản và nước sạch quy ước theo phân loại của Ban chỉ đạo Quốc gia về Cung cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường), cũng như các cơ chế biến đổi hóa - lý trong môi trường nước (quá trình oxy hóa sinh hóa, hiện tượng phú dưỡng - Eutrophication, quá trình hòa tan quặng cacbonat trong địa hình đá vôi).

Về cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng, đề tài căn cứ vào:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; Luật Tài nguyên nước năm 2012; Nghị định 34/2005/NĐ-CP; Nghị định 117/2007/NĐ-CP về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch; Quyết định 17/2006/QĐ-BTNMT; Thông tư 02/2006/TT-BTNMT; Chỉ thị 02/2004/CT-BTNMT; các Quyết định 13/2007/QĐ-BTNMT, 02/2008/QĐ-UBND, 03/2008/QĐ-UBND.
  • Hệ thống quy chuẩn đối chiếu:
    • QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.
    • QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (áp dụng giới hạn Cột B1 – dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự).
    • QCVN 09:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu xã hội học môi trường và phân tích thực nghiệm môi trường:

  • Phương pháp thu thập tài liệu, kế thừa số liệu: Tiếp nhận báo cáo quản lý môi trường, số liệu thống kê từ Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Lạng Sơn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn, Niên giám thống kê thành phố Lạng Sơn (2013), và Công ty TNHH Cấp thoát nước Lạng Sơn.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thực hiện khảo sát 100 hộ dân tại 6 địa bàn dân cư (phường Vĩnh Trại, phường Hoàng Văn Thụ, phường Chi Lăng, phường Đông Kinh, xã Hoàng Đồng, xã Mai Pha) để tìm hiểu nguồn nước sử dụng, nhận thức vệ sinh và thói quen sinh hoạt.
  • Phương pháp lấy mẫu thực địa: Thực hiện theo hướng dẫn của QCVN 08:2008/BTNMT, phân bổ 11 điểm lấy mẫu quan trắc trên địa bàn thành phố Lạng Sơn:
    • 01 mẫu nước giếng đào: Điểm M1 (thôn Pác Cáp, xã Quảng Lạc).
    • 05 mẫu nước mặt: M2 (Hồ Phai Món), M3 (Sông Kỳ Cùng tại cầu Chi Lăng), M4 (Suối Lao Ly tại cầu Phố Muối), M5 (Hồ Phai Loạn), M6 (Hồ Nà Tâm).
    • 05 mẫu nước ngầm tại các trạm cấp nước sạch đô thị: M7 (Trạm bơm H7 - Tam Thanh), M8 (Trạm bơm H3 - Tam Thanh), M9 (Trạm bơm H1 - Hoàng Văn Thụ), M10 (Trạm bơm H8 - Đông Kinh), M11 (Trạm bơm H10 - Chi Lăng).
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Sử dụng máy đo đa chỉ tiêu tại hiện trường và phòng thí nghiệm (đo pH, DO); phương pháp chuẩn độ oxy hóa bằng kali pemanganat ($\text{KMnO}_4$) xác định COD; phương pháp pha loãng xác định $\text{BOD}_5$; phương pháp sấy cân xác định TSS; phương pháp chuẩn độ EDTA xác định độ cứng tổng số; phương pháp so màu trắc quang phổ tử ngoại - khả kiến (UV-VIS) xác định hàm lượng sắt tổng số và các hợp chất nitơ ($\text{NH}_4^+$, $\text{NO}_2^-$); phương pháp màng lọc/lên men nhiều ống xác định Coliform.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả và lập biểu bảng, đồ thị so sánh biến thiên nồng độ trên phần mềm Microsoft Excel 2013 và Microsoft Word.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ tầm quan trọng sinh học của nước đối với cơ thể sống, thực trạng tài nguyên nước tại thành phố Lạng Sơn trong bối cảnh địa hình miền núi phân cắt và công tác quản lý hạ tầng còn nhiều bất cập. Phần này xác định hệ thống mục tiêu, 4 yêu cầu học thuật và thực tiễn, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu cho cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Chương tổng quan hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về tài nguyên nước, định nghĩa nước sạch quy ước và nước sạch cơ bản, các nguồn gây ô nhiễm tự nhiên và nhân tạo. Tác giả tổng hợp xu hướng suy thoái chất lượng nước mặt và nước dưới đất (tăng hàm lượng khoáng hóa, tăng COD/BOD, tích lũy kim loại nặng, giảm DO). Đồng thời, chương này khái quát bức tranh tài nguyên nước Việt Nam theo tiêu chuẩn IWRA (tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng $847\text{ km}^3$, nhưng hơn 60% bắt nguồn ngoài lãnh thổ; phân bổ theo đầu người giảm dần theo các mốc 1990, 2000 và dự báo đến 2020). Riêng tỉnh Lạng Sơn, nguồn nước mặt phụ thuộc vào 3 hệ thống sông chính: sông Kỳ Cùng, sông Thương và sông Hóa; mật độ sông suối từ 0,6 đến $1,2\text{ km/km}^2$; nguồn nước ngầm nghèo do cấu trúc địa chất karst.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu là nước sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn; ấn định khung thời gian nghiên cứu 3 tháng (từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2015). Tác giả thiết lập hệ thống 11 vị trí lấy mẫu đại diện cho 3 loại hình nguồn nước chính (nước giếng gia đình, nguồn nước mặt tự nhiên và nguồn nước ngầm khai thác công nghiệp). Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu khảo sát gồm 10 câu hỏi cấu trúc được chuẩn hóa nhằm thu thập dữ liệu về thói quen trữ nước, chi phí và nhận thức của 100 hộ dân tại 6 đơn vị hành chính cấp xã, phường.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả tập trung phân tích 3 nhóm nội dung lớn:

  1. Hiện trạng hạ tầng và tỷ lệ sử dụng nước: Hệ thống cấp nước thành phố có công suất khai thác nước ngầm 500 - $600\text{ m}^3/\text{h}$, mạng lưới đường ống chính dài $50\text{ km}$ (đường kính $\Phi 50 - \Phi 300\text{ mm}$), cấp nước cho trên 8.000 hộ và hơn 300 cơ quan. Dữ liệu niên giám 2013 cho thấy toàn thành phố có 18.322 hộ dùng nước máy (72,4%), 6.143 hộ dùng nước giếng đào/khoan (24,3%) và 852 hộ dùng nước sông suối hồ tự nhiên (3,3%). Vẫn còn khoảng 35,6% hộ gia đình sử dụng nguồn nước chưa đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh.
  2. Chất lượng nước giếng đào (Điểm M1 - xã Quảng Lạc): Nước giếng có pH đạt 6,93; TSS $< 2,0\text{ mg/l}$; độ cứng $163,839\text{ mg/l}$; các chỉ tiêu amoni, sunfat, kim loại nặng ($\text{Pb}, \text{Zn}, \text{Fe}$) đều thấp hơn nhiều lần so với giới hạn của QCVN 09:2008/BTNMT.
  3. Chất lượng nước mặt (M2 đến M6): Xảy ra ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng nghiêm trọng tại hồ Phai Món (M2) với $\text{COD} = 146\text{ mg/l}$ (vượt chuẩn B1 4,86 lần), $\text{BOD}_5 = 87\text{ mg/l}$ (vượt chuẩn 5,8 lần), $\text{DO} = 2,95\text{ mg/l}$ (dưới mức tối thiểu cho phép là $4\text{ mg/l}$), hàm lượng $\text{NH}_4^+ = 18,680\text{ mg/l}$ (vượt chuẩn 37,36 lần). Suối Lao Ly (M4) bị ô nhiễm nitrit ($\text{NO}_2^- = 0,188\text{ mg/l}$, vượt 4,7 lần) và amoni ($\text{NH}_4^+ = 1,802\text{ mg/l}$, vượt 3,6 lần). Hồ Phai Loạn (M5) có amoni vượt 2,72 lần. Sông Kỳ Cùng (M3) và hồ Nà Tâm (M6) có chất lượng nước tương đối tốt, các chỉ tiêu đều nằm trong ngưỡng QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1). Kim loại nặng và Coliform tại cả 5 điểm đều đạt quy chuẩn.
  4. Chất lượng nước ngầm tại 5 trạm bơm (M7 đến M11): Các mẫu nước ngầm khai thác có chất lượng ổn định, tất cả các chỉ tiêu phân tích (pH, TSS, amoni, sunfat, $\text{Pb}, \text{Zn}, \text{Fe}$) đều đạt tiêu chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT. Độ cứng tính theo $\text{CaCO}_3$ dao động từ $60,710\text{ mg/l}$ (Trạm H1) đến $291,390\text{ mg/l}$ (Trạm H10 Chi Lăng).
  5. Hệ thống giải pháp đề xuất: Đề xuất các nhóm biện pháp về truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng; đa dạng hóa nguồn vốn (Trung ương, địa phương, viện trợ quốc tế từ UNICEF/WB và vốn đóng góp nhân dân); giải pháp kỹ thuật công nghệ (cải tạo thành giếng, đặt cách xa nguồn ô nhiễm tối thiểu $10\text{ m}$, xây dựng trạm cấp nước tập trung quy mô nhỏ khoảng 5.000 dân với dây chuyền giàn mưa - lắng - lọc - khử trùng); các chính sách xã hội hỗ trợ hộ nghèo và quản lý đơn giá nước.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các phát hiện định lượng chính về tỷ lệ tiếp cận nước máy, mức độ ô nhiễm cục bộ tại các thủy vực mặt và hiện trạng đạt chuẩn của nguồn nước ngầm. Đồng thời, tác giả đưa ra 5 kiến nghị cụ thể đối với chính quyền thành phố Lạng Sơn và Sở Tài nguyên và Môi trường về công tác đầu tư hạ tầng, lập quy hoạch chi tiết cấp nước nông thôn và duy trì mạng lưới quan trắc định kỳ.


Kết quả và đóng góp

Số liệu kết quả thực nghiệm và khảo sát

Loại hình nguồn nước Vị trí / Điểm quan trắc Các chỉ tiêu chính vượt quy chuẩn Các chỉ tiêu đạt chuẩn điển hình Ghi chú đánh giá
Nước giếng đào M1 (Thôn Pác Cáp, xã Quảng Lạc) Không có chỉ tiêu vượt chuẩn pH: 6,93; TSS $<2\text{ mg/l}$; Độ cứng: $163,84\text{ mg/l}$; $\text{NH}_4^+ <0,012\text{ mg/l}$; $\text{SO}_4^{2-}: 19,08\text{ mg/l}$; $\text{Pb}: 0,002\text{ mg/l}$; $\text{Zn}: 0,024\text{ mg/l}$; $\text{Fe}: 0,019\text{ mg/l}$ Đạt tiêu chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT; đủ điều kiện cấp nước sinh hoạt sau xử lý lắng/lọc đơn giản
Nước mặt tự nhiên M2 (Hồ Phai Món) - COD: $146\text{ mg/l}$ (vượt 4,86 lần)
- $\text{BOD}_5: 87\text{ mg/l}$ (vượt 5,80 lần)
- DO: $2,95\text{ mg/l}$ (thấp hơn quy chuẩn)
- $\text{NH}_4^+: 18,680\text{ mg/l}$ (vượt 37,36 lần)
pH: 6,68; TSS: $29\text{ mg/l}$; $\text{NO}_2^-: 0,004\text{ mg/l}$; Coliform: $2.400\text{ MPN/100ml}$; Kim loại nặng ($\text{Fe, Pb, Zn}$) đạt chuẩn Ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng rất nghiêm trọng do tiếp nhận nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý
M3 (Sông Kỳ Cùng tại cầu Chi Lăng) Không có chỉ tiêu vượt chuẩn pH: 6,45; TSS: $32\text{ mg/l}$; COD: $10\text{ mg/l}$; $\text{BOD}_5: 5\text{ mg/l}$; DO: $5,01\text{ mg/l}$; $\text{NH}_4^+: 0,038\text{ mg/l}$; Coliform: $90\text{ MPN/100ml}$ Đạt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1); TSS cao nhất trong các điểm do dòng chảy đô thị
M4 (Suối Lao Ly tại cầu Phố Muối) - $\text{NH}_4^+: 1,802\text{ mg/l}$ (vượt 3,60 lần)
- $\text{NO}_2^-: 0,188\text{ mg/l}$ (vượt 4,70 lần)
pH: 7,41; TSS: $7\text{ mg/l}$; COD: $20\text{ mg/l}$; $\text{BOD}_5: 10,5\text{ mg/l}$; DO: $4,35\text{ mg/l}$; Coliform: $75\text{ MPN/100ml}$ Bị ô nhiễm các hợp chất nitơ do nước thải khu dân cư và thảm thực vật thủy sinh phân hủy
M5 (Hồ Phai Loạn) - $\text{NH}_4^+: 1,361\text{ mg/l}$ (vượt 2,72 lần) pH: 7,46; TSS: $12\text{ mg/l}$; COD: $29\text{ mg/l}$; $\text{BOD}_5: 14\text{ mg/l}$; DO: $5,32\text{ mg/l}$; Coliform: $99\text{ MPN/100ml}$ Dấu hiệu phú dưỡng cục bộ; các thông số kim loại nặng đều nằm trong ngưỡng an toàn
M6 (Hồ Nà Tâm) Không có chỉ tiêu vượt chuẩn pH: 7,42; TSS: $18\text{ mg/l}$; COD: $13\text{ mg/l}$; $\text{BOD}_5: 6\text{ mg/l}$; DO: $5,18\text{ mg/l}$; $\text{NH}_4^+: 0,425\text{ mg/l}$; Coliform: $60\text{ MPN/100ml}$ Đạt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1)
Nước ngầm trạm cấp M7 đến M11 (Trạm H1, H3, H7, H8, H10) Không có chỉ tiêu vượt chuẩn pH: 6,98 - 7,32; TSS $<2\text{ mg/l}$; $\text{NH}_4^+ <0,012\text{ mg/l}$; $\text{SO}_4^{2-}: 5,169 - 27,732\text{ mg/l}$; Độ cứng: $60,71 - 291,39\text{ mg/l}$; $\text{Pb}: 0,001 - 0,005\text{ mg/l}$; $\text{Zn}: 0,012 - 0,034\text{ mg/l}$; $\text{Fe}: 0,022 - 0,075\text{ mg/l}$ Chất lượng tốt, đạt quy chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT; độ cứng tại trạm H10 (Chi Lăng) cao nhất ($291,39\text{ mg/l}$)

Tổng hợp hiện trạng sử dụng nước của người dân thành phố

Phân loại nguồn nước Số hộ sử dụng (Năm 2013) Tỷ lệ toàn thành phố (%) Địa bàn tập trung chính Tỷ lệ khảo sát 100 hộ (Năm 2015)
Nước máy 18.322 72,4% Phường Chi Lăng (4.386 hộ), Đông Kinh (3.844 hộ), Tam Thanh (3.139 hộ) 88%
Nước giếng đào / khoan 6.143 24,3% Xã Mai Pha (1.427 hộ), xã Quảng Lạc (1.213 hộ), xã Hoàng Đồng (984 hộ) 12%
Nước sông, suối, hồ 852 3,3% Xã Hoàng Đồng (372 hộ), xã Quảng Lạc (351 hộ), xã Mai Pha (129 hộ) 0%
Tổng cộng 25.317 100,0% Toàn địa bàn thành phố Lạng Sơn 100%

Đóng góp thực tiễn của khóa luận

  • Khóa luận đã hệ thống hóa được bộ dữ liệu thực địa về mức độ bao phủ của mạng lưới cấp nước sạch và cơ cấu nguồn nước sinh hoạt phân chia theo từng xã, phường trên địa bàn thành phố Lạng Sơn.
  • Xác định chính xác các điểm nóng ô nhiễm nguồn nước mặt nội đô (đặc biệt là mức độ ô nhiễm hữu cơ tại Hồ Phai Món và ô nhiễm nitơ tại Suối Lao Ly), cung cấp bằng chứng thực nghiệm minh chứng cho tác động tiêu cực của nước thải sinh hoạt đô thị chưa qua xử lý đối với cảnh quan và nguồn nước mặt.
  • Chứng minh tính an toàn về mặt hóa - lý của các nguồn nước ngầm đang khai thác tại 5 trạm bơm chính của Công ty TNHH Cấp thoát nước Lạng Sơn, khẳng định nguồn nước ngầm là nguồn cấp nước an toàn chủ đạo cho thành phố.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện:

  • Quy mô lấy mẫu thực nghiệm hạn chế: Tác giả chỉ tiến hành lấy và phân tích trực tiếp được 01 mẫu nước giếng đào đại diện (tại xã Quảng Lạc); các dữ liệu nước mặt và nước ngầm tại trạm bơm chủ yếu kế thừa từ đợt quan trắc môi trường Đợt 1 năm 2014 của Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Lạng Sơn. Do đó, nghiên cứu chưa phản ánh được sự biến động chất lượng nước theo mùa (mùa mưa so với mùa khô).
  • Thời gian thực hiện ngắn: Đề tài được triển khai trong thời gian 3 tháng thực tập tốt nghiệp (08/01/2015 – 09/04/2015), kinh nghiệm thực tế của sinh viên còn hạn chế.
  • Phạm vi chỉ tiêu phân tích: Nghiên cứu chưa phân tích sâu các chỉ tiêu vi lượng độc hại chuyên biệt như dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, asen hay dầu mỡ khoáng trong nước mặt đô thị.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề xuất:

  • Mở rộng mạng lưới quan trắc và tần suất lấy mẫu định kỳ các nguồn nước giếng gia đình tại các xã ngoại thành (Quảng Lạc, Mai Pha, Hoàng Đồng).
  • Thực hiện các nghiên cứu đánh giá hiện trạng chi tiết phục vụ việc lập quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết mạng lưới cấp nước sinh hoạt nông thôn cho thành phố Lạng Sơn.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường: Tham khảo cấu trúc của một báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường cấp đô thị; phương pháp kết hợp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi với phân tích hóa nghiệm môi trường; quy trình trích dẫn và áp dụng các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 08:2008/BTNMT, QCVN 09:2008/BTNMT, QCVN 02:2009/BYT).
  • Cán bộ quản lý môi trường đô thị và cơ quan cấp thoát nước tại các tỉnh miền núi phía Bắc: Sử dụng số liệu cơ sở về các thông số thủy hóa (độ cứng, COD, amoni, kim loại nặng) tại các trạm bơm và thủy vực nội đô thành phố Lạng Sơn phục vụ công tác đối soát chất lượng nước hoặc lập kế hoạch cải tạo môi trường hồ Phai Món, suối Lao Ly.
  • Các nhóm nghiên cứu đề tài cấp cơ sở về nước sinh hoạt nông thôn: Tham khảo mẫu phiếu điều tra xã hội học 10 câu hỏi (tại Phụ lục của văn bản) và mô hình cấp nước tập trung quy mô nhỏ (cụm 5.000 dân) kết hợp công nghệ giàn mưa - bể lắng - bể lọc phù hợp với vùng địa hình karst.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao hàm lượng COD và BOD tại hồ Phai Món lại vượt quy chuẩn kỹ thuật nhiều lần?

Theo kết quả phân tích trong khóa luận, hàm lượng COD tại hồ Phai Món đạt $146\text{ mg/l}$ (vượt chuẩn B1 của QCVN 08:2008/BTNMT 4,86 lần) và $\text{BOD}_5$ đạt $87\text{ mg/l}$ (vượt 5,8 lần). Nguyên nhân trực tiếp được tác giả chỉ ra là do hồ Phai Món nằm trong khu dân cư tập trung, tiếp nhận trực tiếp lượng lớn nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý, rác thải xả bừa bãi quanh bờ hồ, dư lượng hóa chất phân bón từ hoạt động nông nghiệp xung quanh và sự tích tụ của bèo cùng thảm thực vật thủy sinh lâu năm không được nạo vét.

2. Chất lượng nước giếng đào của hộ dân tại xã Quảng Lạc có đạt tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt không?

Dựa trên kết quả phân tích mẫu M1 tại thôn Pác Cáp (xã Quảng Lạc), tất cả các chỉ tiêu phân tích gồm pH (6,93), TSS ($<2\text{ mg/l}$), độ cứng ($163,839\text{ mg/l}$), amoni ($<0,012\text{ mg/l}$), sunfat ($19,079\text{ mg/l}$), chì ($0,002\text{ mg/l}$), kẽm ($0,024\text{ mg/l}$) và sắt ($0,019\text{ mg/l}$) đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 09:2008/BTNMT. Do đó nguồn nước giếng này đạt yêu cầu kỹ thuật và có thể sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Tuy nhiên, tác giả lưu ý giếng đào tự làm thường dễ bị đục và nhiễm bẩn cục bộ vào mùa mưa do nước mặt tràn vào.

3. Nguồn nước ngầm tại các trạm bơm cấp nước của thành phố Lạng Sơn có đặc điểm chất lượng như thế nào?

Số liệu quan trắc tại 5 trạm bơm (M7 đến M11) cho thấy chất lượng nước ngầm tương đối tốt, đạt các chỉ tiêu theo QCVN 09:2008/BTNMT (pH từ 6,98 đến 7,32; TSS $<2\text{ mg/l}$; amoni $<0,012\text{ mg/l}$; kim loại nặng $\text{Pb, Zn, Fe}$ rất thấp). Điểm đáng lưu ý nhất là độ cứng tính theo $\text{CaCO}_3$ tương đối cao do cấu trúc địa chất karst của Lạng Sơn, dao động từ $60,710\text{ mg/l}$ (Trạm H1) đến $291,390\text{ mg/l}$ (Trạm H10 Chi Lăng), song vẫn thấp hơn ngưỡng giới hạn cho phép ($500\text{ mg/l}$).

4. Cơ cấu sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn phân bố ra sao giữa nội thành và ngoại thành?

Số liệu thống kê năm 2013 cho thấy mạng lưới nước máy tập trung chủ yếu tại các phường nội thành như Chi Lăng (23,4%), Đông Kinh (20,9%) và Tam Thanh (17,1%), trong khi xã Quảng Lạc hoàn toàn chưa có nước máy. Ngược lại, việc sử dụng nước giếng và nước mặt tự nhiên (sông, suối, hồ) phân bố chủ yếu ở khu vực ngoại thành gồm các xã Mai Pha, Hoàng Đồng và Quảng Lạc (chiếm hơn 99% tổng số hộ sử dụng nước sông suối tự nhiên của toàn thành phố).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Tùng Lâm đã phản ánh bức tranh toàn diện và trung thực về hiện trạng cấp nước sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn năm 2015 thông qua việc kết hợp số liệu quản lý hành chính, khảo sát xã hội học và kết quả quan trắc thực nghiệm. Nghiên cứu chỉ ra sự tương phản rõ rệt: nguồn nước ngầm phục vụ mạng lưới nước máy đô thị có chất lượng rất tốt và đạt quy chuẩn, trong khi các nguồn nước mặt tự nhiên nội đô (tiêu biểu là hồ Phai Món và suối Lao Ly) đang chịu tải lượng ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng nghiêm trọng từ nước thải sinh hoạt. Các giải pháp kỹ thuật cải tạo giếng, phát triển hệ thống cấp nước tập trung quy mô nhỏ và kiện toàn cơ chế chính sách được đề xuất có tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước tại địa phương.