CHƯƠNG 1: ĐẶC DIEM DIA CHAT BON TRUNG NAM CON SON VA KHU VUC NGHIEN CUU 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Bồn tring Nam Côn Sơn là một trong những bồn trũng lớn và có tiềm năng dầu khí cao trên thềm lục địa Việt Nam. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp dau khí, sự phát triển trong công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác ở phạm vi bồn ngày càng được đây mạnh và đã thu về được nhiều kết quả kha quan, day triển vọng. Bổn trũng có vị trí nằm trong khoảng 6°-9° 45’ vĩ độ Bắc và 106°-109° 30° kinh độ Đông, cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 400 km về phía Đông Nam.
Bon có diện tích khoảng 100. HỒ CHÍ MINH VỮNG TAU CHU THÍCH NY [UN Đ TRAM TÍCH DS TAM 100 200 km Hình 1.1: Vi tri dia ly bôn triing Nam Côn Sơn Bồn được ngăn cách với bổn tring Cửu Long bang đới nâng Côn Son ở phía Tây Bac, phía Tây và Nam được ngăn cách với bồn MaLay — Thổ Chu bởi đới nâng HV: Phạm Thị Lệ Thùy CBHD: TS. Nguyễn Quốc Quân 2 Sử dụng tài liệu địa vật lý giếng khoan đánh gid áp suất khu vực A - Bon triing Nam Côn Sơn Korat — Natuna, giáp phía Đông là bổn tring Tư Chính — Vũng Mây và phía Đông Bắc là bổn tring Phú Khánh. =2 VIỆT NAM —— — xả» a DAO PHÔ QUÝ © “.) oo Deas KA mTM IX lẻ f ae ” bes POT al eis Lo "7 ‹ ng % nu > Su Bdevenion ¢ St etal hes " trú @ tanun , ." o kế mm @ su evo oF ° MT 1%.
wr wipes ore suớn ou CÓ, set À4 9 rw À4 " me ty —. 1x tÒ, Lê m a ati Lp > Mew ox " ,, J Hình 1.2: Các lô thuộc bồn triing Nam Côn Son HV: Phạm Thị Lệ Thùy CBHD: TS. Nguyễn Quốc Quân 3 Sứ dụng tài liệu địa vật lý giếng khoan đánh giá áp suất khu vực A - Bon triing Nam Côn Sơn Bồn Nam Côn Sơn bao gồm các lô 02, 03, 04-1, 04-2, 04-3, 05-1, 05-2, 05-3, 06, 07, 10, 11-1, 11-2, 12-E, 12-W, 19, 20, 21, 22, 28, 29 và một phân các lô 130, 131, 132, 133, 134 và 135. Độ sâu của nước biển trong phạm vi của bôn trũng thay đổi rất lớn, từ vài chục mét ở phía Tây đến hơn 1000 m ở phía Đông.
Khu vực A năm ở phân trung tâm của bổn trũng (thuộc trũng trung tâm), trong phạm vi lô 05.3, đây là vùng sâu nhất của bổn trũng Nam Côn Son, được hình thành do quá trình sup lún của bồn qua các giai đoạn kiến tạo. Location Map C2) Gas ®$©oxery (sa) Gas consersate G@ucovery (520) Of Gecovery CD usssepeges 830000 OPEN 860000 LAN TAY PLATFORM Hình 1.3: Ban dé vị trí khu vực nghiên cứu HV: Phạm Thị Lệ Thùy CBHD: TS. Nguyễn Quốc Quân 4 Sứ dụng tài liệu địa vật lý giếng khoan đánh giá áp suất khu vực A - Bon triing Nam Côn Sơn 1. LICH SỬ TÌM KIEM THĂM DO DẦU KHÍ Lịch sử tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí bồn tring Nam Côn Sơn gắn liên với lịch sử tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí của thêm lục địa Nam Việt Nam.
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm, quy mô, mốc lịch sử và kết quả thăm dò, lịch sử tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí bồn triing Nam Côn Sơn được chia làm 4 giai đoạn sau: ° Giai đoạn trước năm 1975. ° Giai doan 1988 dén nay. Giai đoạn trước năm 1975: Từ 1975 trở về trước, công tác khảo sát khu vực và tìm kiếm dầu khí được nhiều công ty, nha thầu triển khai trên toàn thêm lục địa phía Nam nói chung và bổn tring Nam Côn Sơn nói riêng. Các hoạt động này do các công ty thăm dò Mỹ và Anh thực hiện như: Mandrell, Mobil Kaiyo, Pecten, Esso, Union Texas, Sun Marathon, Sunning Dale.
Các nhà thầu đã thu nỗ hang nghìn km dia chân 2D với mạng lưới tuyến 4x4 km va 8x8 km. Voi mức độ nghiên cứu đó và dựa vào tài liệu nhận được, các công ty kể trên đã tiễn hành minh giải tài liệu địa chan, xây dựng được một số bản dé đăng thời tỷ lệ 1/100.000 cho các lô riêng và tỷ lệ 1/50.000 cho một số cầu tạo triển vọng. Song do mật độ khảo sát còn thấp nên độ chính xác của bản đồ chưa cao. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đạt được cuối 1974 đầu 1975, công ty Pecten va Mobil đã tiến hành khoan 5 giếng ở các lô và trên các cau tạo khác nhau (Mia-1X, ĐH-1X, Héng-1X, Dừa-IX và Dừa-2X), trong đó giếng Dira-1X đã phát hiện dau.
Kết thúc giai đoạn này đã có ba báo cáo đánh giá kết quả nghiên cứ chung cho các lô, trong đó đáng chú ý và quan trong nhất là báo cáo của công ty Mandrell. Trong báo cáo này đã đưa ra hai bản đồ dang thời tầng phản xạ nông và tầng phan HV: Phạm Thị Lệ Thùy CBHD: TS. Nguyễn Quốc Quân 5 Sứ dụng tài liệu địa vật lý giếng khoan đánh giá áp suất khu vực A - Bon triing Nam Côn Sơn xạ móng, các bản đồ dị thường từ và trọng lực tỷ lệ 1/500.000 cho toàn thêm lục địa Việt Nam. Cac bản đồ này phan nào đã thé hiện được các đặc điểm hình thai của các đơn vị kiến tạo lớn bậc I và II và cho thay sự có mat của lớp phủ trầm tích Kainozoi day hàng nghìn mét trên thêm lục địa.
Tuy vậy ở giai đoạn này chưa có một báo cáo tổng hợp nào dù là sơ bộ về đặc điểm câu trúc, lịch sử phát triển địa chất cho toàn vùng nói chung cũng như các lô nói riêng. Các số liệu minh giải và các ranh gI1ới tầng phản xạ chuẩn được lựa chọn theo nhiều quan điểm khác nhau trên từng lô, vì vậy gây khó khăn cho công tác tong hợp toàn bổn trũng. Giai đoạn 1976-1980: Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tháng 11/1975 Tổng cục dau khí (tiền thân của Petrovietnam ngày nay) quyết định thành lập công ty Dau khí Nam Việt Nam. Công ty đã tiến hành đánh giá lại triển vọng dầu khí thềm lục địa Nam Việt Nam nói chung và từng lô nói riêng.
Các công ty AGIP và BOW VALLEY đã hợp đồng khảo sát tỉ mỉ 15.000 km địa chân 2D mạng lưới đến 2x2 km và khoan thêm 8 giếng khoan (04A-1X, 04B-1X, 12A-1X, 12B-1X, 12C-1X, 28A-1X va 29A-1X). Trên cơ sở khảo sát địa chất, dia vật ly và khoan, các công ty nêu trên đã thành lập một số ban đồ dang thời theo các tang phản xạ ở các tỷ lệ khác nhau và đã có báo cáo tổng kết. Công ty GECO, AGIP đã nêu ra những quan điểm vẻ cấu trúc địa chất và đánh giá tiềm năng dâu khí thêm lục địa Việt Nam (GECO) và chỉ tiết hơn là trên các lô 04 và 12 (AGIP). Công ty dầu khí Nam Viêt Nam đã tiễn hành phân tích nghiên cứu và tổng hop tài liệu đã có, xây dựng được một bản đồ đăng thời và bản đô câu tạo tỉ lệ 1/100.000 cho các lô và một số cau tạo phục vụ sản xuất.
Ngoài ra trong giai đoạn này các nhà nghiên cứu cũng đã hoàn thành một số phương án dia vật lý và khoan tìm kiếm, đặc biệt đã hoàn thành báo cáo tong hop “Câu trúc địa chất và triển vong dau khi thém luc dia Nam Viét Nam”, dé cap dén van dé lich sử phat triển địa chat toàn vùng nói chung va bổn tring Nam Côn Son HV: Phạm Thị Lệ Thùy CBHD: TS. Nguyễn Quốc Quân 6 Sứ dung tài liệu địa vật ly giếng khoan đánh giá áp suất khu vực A - Bon triing Nam Côn Sơn nói riêng, đông thời cũng nêu lên một sô cơ sở địa chât đê đánh giá triên vọng dâu khí toàn vùng nghiên cứu. Song do những điêu kiện khách quan, bức tranh chi tiệt về câu trúc địa chat trong giai đoạn này vẫn chưa được làm sáng tỏ. Giai đoạn từ 1981-1987: Hiệp định hữu nghị và hợp tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở thêm lục địa Nam Việt Nam được kí kết giữa Việt Nam và Liên Xô, đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển ngành công nghiệp dâu khí Việt Nam với sự ra đời của Xí nghiệp liên doanh dau khí “Vietsovpetro” (1981).
Song cũng can phải nói rang vì những ly do khác nhau, công tác địa chất — địa vật lý chủ yếu được dau tư vào bổn tring Cửu Long, còn đối với bồn tring Nam Côn Sơn chỉ có một số diện tích nhất định được nghiên cứu chi tiết, trong đó có khu vực câu tạo Đại Hùng (VSP đã tiến hành khoan 3 giếng). Trong giai đoạn này đã có một số báo cáo tong hop dia chat - dia vat ly duoc hoàn thành như bao cáo: “Phân vung kiến tạo các bồn tring Kainozoi thém luc dia Việt Nam” của tác giả Lê Trọng Cán và nnk (1985) và báo cáo: '““Tổng hop dia chất — địa vật lý, tính trữ lượng dự báo hydrocarbon và vạch phương hướng công tác tìm kiếm dầu khí trong giai đoạn tiếp theo ở thềm lục địa Nam Việt Nam” của Hồ Đắc Hoài, Trần Lê Đông (1986) và luận an tiến sỹ khoa học địa chat khoang vat cua Nguyễn Giao: “Cau trúc dia chat và triển vọng dâu khí của các bề tram tích Dé Tam vùng Biển Đông Việt Nam” (1987). Giai đoạn 1988 đến nay: Sau khi Nhà nước ban hành luật đầu tư nước ngoài, rất nhiều các nhà thầu đã ký các hợp đồng triển khai công tác tìm kiếm thăm dò ở bổn tring Nam Côn Sơn. Các nhà thâu đã tiến hành khảo sát gần 55.000 km địa chấn 2D và 5.400 km2 địa chấn 3D, đã khoan hàng trăm giếng khoan thăm dò và khai thác, ví dụ như mỏ Đại HV: Phạm Thị Lệ Thùy CBHD: TS.
Nguyễn Quốc Quân 7 Sứ dụng tài liệu địa vật lý giếng khoan đánh giá áp suất khu vực A - Bon triing Nam Côn Sơn Hùng đã được đưa vào khai thác từ 1994, mỏ khí Lan Tây vào năm 2002 và các mỏ khí Rồng Đôi, Rồng Đôi Tây, Hải Thạch. cũng dang đưa vào khai thác. Trong công tác báo cáo tổng hợp các nhà thầu cũng đã có báo cáo lô và giếng khoan, về phía Tập đoàn Dau khí Việt Nam có một số báo cáo nghiên cứu tong hợp chung cho cả bon trững. Đó là báo cáo: “Chính xác hóa cấu trúc dia chat, đánh giá tiềm năng và dé xuất phương hướng tìm kiếm thăm dò dau khí ở bổn tring Nam Côn Sơn” của Nguyễn Giao, Nguyễn Trọng Tín và nnk (1990), báo cáo: “Địa chat dau khí và tiềm năng hydrocarcon bổn tring Nam Côn Sơn” của Nguyễn Giao, Nguyễn Trọng Tín, Lê Văn Dung, D.