Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm sinh học cá tra 1. Phân loại Cá tra là một trong các loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae), phân bố ở sông Mekong. Trong hệ thống phân loại, cá tra được xác định như sau: Lớp: Actinopterygi Bộ: Siluriformes Họ: Pangastidae Giống: Pangasianodon Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Tén tiéng anh: striped catfish Tén tiéng viét: ca tra 1.
Phân bố Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mekong, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái lan. Ở Thái Lan, còn gặp cá tra ở sông Chao Phraya. Ở Campuchia, cá tra di cư ngược dòng từ thang 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm. Ở nước ta, cá tra phân bố nhiều nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên ở địa phận Việt Nam, do cá có tập tính di cư ngược đòng sông Mekong dé sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên (Phạm Văn Khánh, 2000). Đặc điểm hình thái, sinh thái Cá tra là cá da trơn không vảy, thân dài có màu xám nhạt, lưng xám đen, bụng có màu trắng hơi bạc, miệng rộng, mắt tương đối to, có hai đôi râu dài, vây lưng và vây ngực có gai cứng. Cá tra có thể chịu đựng được nước phèn với pH > 4, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15°C (Pham Văn Khánh, 2000). Cá tra có mật độ hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác.
Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng hơi và da nên chịu đựng được môi trường nước có oxy hòa tan thấp như ở những ao hồ chật hẹp. Điều kiện môi trường sống Nhiệt độ: Cá tra là loài cá chịu lạnh kém vì loài này phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Nhiệt độ tối ưu cho cá tra 26 — 30°C (Pham Văn Khánh, 2000). Tuy nhiên, theo Trần Thị Thanh Hiền và ctv (2009), cá tra tiêu hóa, hấp thu đạm và năng lượng từ thức ăn tốt nhất ở 30°C.
Ở nhiệt độ 15°C, cường độ bắt mỗi của cá giảm nhưng cá vẫn còn sống. Khi nhiệt độ tăng lên 39°C, cá bị mất nhớt va lờ do (Nguyễn Tuần, 2000). Độ pH: Biến động pH có anh hưởng rất lớn đến cường độ trao đổi chất cũng như tốc độ tăng trưởng của cá. Theo Phạm Văn Khánh (2000), pH thích hợp cho cá khoảng 7 — 8.
Khi pH < 5 thì cá có hiện tượng mat nhớt do cá tăng cường tiết nhớt trên bề mặt mang, gây trở ngại cho quá trình trao đổi khí và các ion qua mang, làm cho hoạt động của cá trở nên chậm chap. Khi pH tăng lên 11 thi cá lờ do, có biểu hiện mat nhớt, nếu kéo dài thì cá sẽ chết. Oxy hòa tan : Hàm lượng oxy hòa tan tối ưu cho cá tra từ 3 — 6 mg/L (Phạm Văn Khánh, 2000). Ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng (Teresa và Katy, 2007).
Độ mặn: Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thé sống trong vùng nước lo nhưng không thé sống trong vùng nước mặn. Cá tra có thể chịu đựng độ mặn từ 8 — 10%o (Nguyễn Duy Khoát, 2004). Đặc điểm dinh dưỡng Cá tra là loài cá ăn tạp thiên về động vật ở giai đoạn nhỏ. Cá tra sau khi nở, còn noãn hoàng nhưng có tập tính ăn nhau, gây hao hụt lớn trong việc ương nuôi.
Do đó, người ta thường chuyển cá tra sau khi nở xuống ao nuôi sau 12 giờ dé hạn chế hao hụt do cá ăn thịt lẫn nhau. Theo Dương Nhật Long (2003), trong tự nhiên, cá ăn được mun bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả, tôm, tép, côn trùng, cua, ốc và cá. Cá tra nuôi sử dụng các loại thức ăn khác nhau như cá tạp, thức ăn viên, cám, tấm, rau muống. Dạ dày cá phình to, hình chữ U và co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục.
Sau 1 năm nuôi, cá đạt trọng lượng 1 - 1,5 kg/con, trong những năm sau cá lớn nhanh hơn, cá nuôi trong ao 10 năm có thé đạt trọng lượng 25 kg. Thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên Thành phần thức ăn Tỷ lệ (%) Nhuyén thê 35,4 Ca nho 31,8 Côn trùng 18,2 Thuc vat thuong dang 10,7 Thuc vat da bao 1,60 Giáp xác 2,30 (Nguôn: Menon va Cheko, 1955; trích dan bởi Phạm Van Khanh, 2000) 1. Đặc điểm sinh trưởng Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh. Khi còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dai.
Cá ương trong ao sau 2 tháng đã đạt chiều dai 10 — 12 cm, nặng 14 — 15 g/con. Cá từ khoảng 300 — 400 g/con thì tăng nhanh về chiều dai cũng như khối lượng, cá từ khoảng 2,5 kg/con trở đi mức tăng khối lượng nhanh hơn so với chiều dài cơ thé. Trong tự nhiên, cá tra có thé sống trên 20 năm, khối lượng 18 kg. Trong ao nuôi vỗ, cá bố mẹ cho đẻ đạt tới 25 kg khi 10 năm tuổi (Phạm Văn Khánh, 2000).
Nuôi trong ao, năm đầu tiên cá đạt 1,0 — 1,5 kg/con, những năm về sau, cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5 — 6 kg/năm, tùy thuộc môi trường sông, số lượng và loại thức ăn có hàm lượng đạm cao hay thấp (Phạm Văn Khánh, 2000). Đặc điểm sinh sản Việc thành thục của cá tra được diễn ra vào đầu mùa mưa. Trong tự nhiên, chỉ gặp cá thành thục trên sông ở địa phận ở miền Bắc Campuchia và Thái Lan. Cá không đẻ ở phần sông của Việt Nam.
Ở Campuchia, bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp hai con sông Mekông và Tonlesap, từ Sombor, tỉnh Crachê trở lên (Phạm Văn Khánh, 2000). Trong tự nhiên, không gặp tình trạng cá tái phát dục, chỉ gặp trong điều kiện nuôi nhân tạo. Tudi thành thục của cá đực là 2 tudi và cá cái là 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5 — 3,0 kg. Cá tra có thé tái phat dục 1 — 2 lần trong năm.
Sức sinh sản tuyệt đôi của cá tra có thé từ 200 ngàn đến vai triệu trứng, sức sinh sản tương đối thường dao động từ 70 — 150 ngàn trứng/kg cá cái, với kích thước trứng tương đối nhỏ. Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 0,9 mm, trứng sau khi đẻ sẽ hút nước, đường kính trứng có thé đạt tới 1,5 — 1,6 mm (Phạm Văn Khánh, 2000). Nước ta cũng đã cho sinh sản nhân tạo thành công con cá tra, đóng góp nguồn con giống với số lượng rất lớn cho ngành công nghiệp nuôi cá tra xuất khâu, thu về ngoại tệ cho đất nước. Tuy nhiên, con giống cũng cần được nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Nhu cầu canxi và phospho của cá 1. Nhu cầu canxi ở cá Canxi giữ vai trò quan trọng trong sự trao đôi chất, trong hoạt động của cơ và thần kinh, trong sự đông máu, trong sự biến dưỡng vitamin D và ảnh hưởng lên tính thấm của màng tế bào động vật. Nhu cầu canxi của cá tùy thuộc vao tính chất hóa học của nước, giống loài và hàm lượng phospho trong thức ăn. Tuy nhiên, nhu câu canxi của cá ít được quan tâm, do cá có khả năng tự hap thụ canxi từ nước.
Tỉ lệ Ca/P trong thức ăn cho cá trung bình từ 1:1 đến 2:1. Nhu cầu canxi trong thức ăn cá da trơn Mỹ (Ictalurus punctatus) trung bình 0,45 — 1,5%. Nếu nuôi cá trong môi trường nước quá mềm, cần chú ý đến hàm lượng canxi bổ sung vào thức ăn (Lê Thanh Hùng, 2008). Nhu cầu phospho ở cá Phospho là một trong những khoáng chất quan trọng nhất theo nhu cầu của cá (Lall, 2002).
Nó là thành phần chính của mô xương và tham gia vào một loạt các quá trình trao đối chất bao gồm biến đổi năng lượng, tính thấm của màng tế bào, và mã hóa di truyền (Lovell, 1989). Theo Dương Thanh Liêm và ctv (2002), phospho liên quan đến biến dưỡng lipid, carbohydrate và tham gia cấu tạo hợp chất dự trữ năng lượng ATP, các chat đóng vai trò cân bằng kiềm — acid trong cơ thé (HaPO¿/ HPOu?). Theo Lovell (1978), khoảng 85 — 90% tổng số phospho trong cơ thé cá được chứa trong xương và vảy, trong khi 10 — 15% lượng phospho còn lại cấu thành máu và mô, hiện diện ở dạng phospho hữu cơ, tức là adenosine triphosphate, phospholipid, axit deoxyribonucleic va coenzyme. Nguồn cung cấp phospho chính chủ yếu từ bột cá trong thức ăn va phospho cũng được cá hấp thu qua mang như canxi.
Tuy nhiên, tỉ lệ phospho hấp thu từ môi trường nước rat thấp, chi đạt 1/40 so với canxi nên phần lớn nhu cầu phospho của cá lệ thuộc vào thức ăn. Thức ăn thiếu canxi thường không gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loài cá nhưng nếu thức ăn thiếu phospho sẽ dẫn đến cá chậm tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp và ảnh hưởng đến sự tạo thành bộ xương của cá (Lê Thanh Hùng, 2008). Khi đảm bảo đủ nhu cầu phospho hữu dụng trong thức ăn của cá da trơn Mỹ khoảng 0,45%, thì cá sẽ có tốc độ tăng trưởng và hàm lượng khoáng trong xương tôi đa (Lovell, 1978). Acid phytic va phytase 1.
Acid phytic va phytate Acid phytic là hợp chat dự trữ phan lớn phospho trong các loại hạt thực vat. Acid phytic có thé kết dính với các ion kim loại như kali, magiê, canxi, kẽm, sắt, đồng tạo thành phức hop phytate khó tan. Hơn nữa, acid phytic còn có thé kết dính các acid amin và các phân tử protein. Tuy nhiên, phức hệ phytate hoặc acid phytic khó được tiêu hóa bởi vật nuôi do thiếu enzyme phytase trong đường tiêu hóa (Baruah và ctv, 2004).
Cấu tạo hóa học của acid phytic (Kumar va ctv, 2011) HO ® ` OH TS ate a @® Hình 1. Acid phytic gắn với khoáng vi lượng (Majumder va ctv, 2019) HO “4 | Il OPOH —-H;N-C-C-O~protein (B) Hình 1. Phúc hợp phytate-protein (Anderson, 1985) Phytate chiếm từ 1 — 5% khối lượng của các hạt đậu, hạt có dầu, ngũ cốc, phấn hoa và hạnh nhân. Phytate được hình thành trong quá trình trưởng thành của hạt giống cây trồng và ngũ cốc (Kumar và ctv, 2012).
Hàm lượng acid phytic cao nhất trong hạt mè tách dau (5,18%), kế đến là bã bông (4,8%) và bã cải (3,69%). Sau khi phân tích trên 20 giống đậu nành người ta nhận thấy hàm lượng acid phytic trong đậu nành là 0,72 — 1,8% khối lượng khô (Cheryan, 1980). Bã cải, bã đậu nành và bã dầu mè có chứa từ 50 — 80% tổng lượng phospho ở dang phytate (Tyagi va Verma, 1998). Phytate làm giảm khả năng tiêu hóa protein và tinh bột.