CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Thực phẩm Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm.
Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến. An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người [38]. Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là cơ sở tổ chức chế biến, cung cấp thức ăn, đồ uống để ăn ngay có địa điểm cố định bao gồm cơ sở chế biến suất ăn sẵn; căng tin kinh doanh ăn uống; bếp ăn tập thể; bếp ăn, nhà hàng ăn uống của khách sạn, khu nghỉ dưỡng; nhà hàng ăn uống; cửa hàng ăn uống; cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín [4]. Cửa hàng ăn là cơ sở dịch vụ ăn uống không có giấy phép kinh doanh, dưới 50 suất ăn/ lần phục vụ thuộc quản lý của UBND thị trấn Đông Anh căn cứ theo Luật An toàn thực phẩm và Thông tư 30/2012/TT-BYT ngày 05/12/2012.
Khái niệm trong nghiên cứu từ năm 2010 trở về trước - Thức ăn đường phố: Là những thức ăn, đồ uống làm sẵn hoặc chế biến, nấu nướng tại chỗ, có thể ăn ngày hoặc được bán trên đường phố kể cả những nơi công cộng tương tự [12]. Thức ăn đường phố bao gồm cơ sở dịch vụ ăn uống đường phố cố định và dịch vụ thức ăn đường phố bán rong. 5 - Quán ăn: là cơ sở ăn uống nhỏ, thường chỉ có một vài nhân viên phục vụ, có tính bán cơ động, thường được bố trí ở dọc đường, trên hè phố, những nơi công cộng [42]. Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện: tại Điều 2 khoản 5 ghi Ủy ban nhân dân (hoặc cơ quan có thẩm quyền) quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh chịu trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận cho cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống do Ủy ban nhân dân (hoặc cơ quan có thẩm quyền) quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có quy mô kinh doanh dưới 200 suất ăn/ lần phục vụ.
Bản cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ sở dịch vụ ăn uống: khoản 2,3 điều 8 chương II quản lý các cơ sở dịch vụ ăn uống không có chứng nhận đăng ký kinh doanh: Trạm Y tế xã, phường, thị trấn quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống có quy mô kinh doanh dưới 50 suất ăn/ lần phục vụ, kinh doanh thức ăn đường phố [5]. Mối nguy an toàn thực phẩm là một tác nhân sinh học, hóa học, vật lý hay điều kiện nào đó của thực phẩm có tiềm năng gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe [12]. Coliforms được coi là vi khuẩn chỉ định thích hợp để đánh giá chất lượng nước uống, nước sinh hoạt và nước nuôi trồng thủy sản (dễ phát hiện và định lượng), thường tồn tại trong thiên nhiên và không đặc hiệu cho sự ô nhiễm phân. Tuy nhiên trong nhóm vi khuẩn Coliform có phổ biến là Escherichia Coli, đây là một loại vi khuẩn thường có trong hệ tiêu hóa của người.
Sự phát hiện vi khuẩn E.Coli cho thấy nguồn nước đã có dấu hiệu ô nhiễm phân. Escherichia coli (thường được viết tắt là E. coli) hay còn được gọi là vi khuẩn đại tràng là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú). Vi khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần của khuẩn lạc ruột.
Sự có mặt của E. coli trong nước là một chỉ thị thường gặp cho ô nhiễm phân. coli thuộc họ vi khuẩn 6 Enterobacteriaceae và thường được sử dụng làm sinh vật chỉ điểm cho các nghiên cứu về ô nhiễm nguồn nước ăn uống và sinh hoạt. coli, nhưng phần lớn chúng có thể nói là vô hại.
Tuy nhiên, một số E. coli có thể gây tiêu chảy, và loại phổ biến nhất trong nhóm E. coli có hại này là E. Ở vài bệnh nhân, vi khuẩn này có thể gây rối loạn máu và suy thận, thậm chí dẫn đến tử vong [13].
Ngộ độc thực phẩm 1. Định nghĩa Bệnh truyền qua thực phẩm là bệnh do ăn, uống thực phẩm bị nhiễm tác nhân gây bệnh. Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chứa chất độc [38]. Ngộ độc thực phẩm thường được biểu hiện dưới 2 dạng: ngộ độc cấp tính và ngộ độc mãn tính.
Ngộ độc cấp tính: Hội chứng bệnh lý cấp tính do ăn uống phải thực phẩm có chất độc, xảy ra đột ngột, biểu hiện bằng những triệu chứng dạ dày - ruột (buồn nôn, nôn, ỉa chảy …) và những triệu chứng khác tùy theo tác nhân gây ra ngộ độc với những biểu hiện đặc trưng của từng loại (Ngộ độc thực phẩm) NĐTP (tê liệt thần kinh, co giật, rối loạn hô hấp, rối loạn tuần hoàn, rối loạn vận động …). Tác nhân gây NĐTP có thể là chất độc hóa học (hóa chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng…), chất độc tự nhiên có sẵn trong thực phẩm, độc tố của vi sinh vật hoặc do chất độc sinh ra do thức ăn bị biến chất. Ngộ độc thực phẩm mãn tính: là hội chứng rối loạn cấu trúc và chức năng của tế bào, tổ chức dẫn tới những hội chứng bệnh lý mạn tính hoặc các bệnh lý mạn tính do sự tích lỹ dần các chất độc do ăn uống [2]. Tình hình ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm Các bệnh truyền qua thực phẩm và ngộ độc thực phẩm ngày càng xảy ra ở quy mô rộng, phổ biến ở nhiều quốc gia; Bảo đảm ATTP trở thành một thách thức lớn 7 đối với mỗi quốc gia và của toàn nhân loại, ngay cả các nước phát triển, cũng có hệ thống quản lý ATTP tiên tiến thì những rủi ro vẫn xảy ra.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO – 2000), hơn 1/3 dân số các nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm và có hơn 3 triệu ca NĐTP, gây tổn hại hơn 200 triệu USD [52]. Ở các nước phát triển như EU, Hà lan, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc… có hàng ngàn trường hợp bị NĐTP mỗi năm và phải chi hàng tỷ đô la cho việc ngăn chặn nhiễm độc thực phẩm [56, 59]. Tỷ lệ toàn cầu của bệnh do thực phẩm là khó có thể ước tính được, theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2013 có 1,7 tỷ người bị bệnh tiêu chảy. Và tỷ lệ lớn các trường hợp này có thể là do ô nhiễm thực phẩm và nước uống [55].
Tại một số nước phát triển như Úc có Luật thực phẩm từ năm 1998 nhưng hằng năm vẫn có khoảng 4,2 triệu người bị NĐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm, trung bình mỗi ngày có 11.500 ca mắc bệnh cấp tính do ăn uống gây ra và chi phí cho một ca NĐTP mất 1. Tại nước Anh, cứ 1000 dân có 190 ca bị NĐTP mỗi năm và chi phí cho một ca bị NĐTP mất 789 bảng Anh [63]. Thống kê của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) Hoa kỳ: nước Mỹ mỗi năm vẫn có khoảng 76 triệu ca ngộ độc thực phẩm với 325.000 người phải nhập vện và 5.000 người tử vong, chi phí cho một ca bị ngộ độc thực phẩm mất 1. Thực tế cho thấy các bệnh do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm chất độc hoặc tác nhân gây bệnh đang là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở các nước đã phát triển cũng như các nước đang phát triển và đây là vấn đề sức khỏe của toàn cầu [60].
Theo Cục An toàn thực phẩm từ năm 2007 đến 2012 cả nước có 1.095 vụ NĐTP với 36.274 ca mắc, trong đó có 264 người chết, trung bình mỗi năm có 115 vụ NĐTP với 5.122 ca mắc, chết 38 người. Thực trạng này là một thách thức lớn với công tác phòng chống NĐTP ở nước ta [7, 9]. Theo tác giả Nguyễn Công Khẩn, số vụ NĐTP có nguyên nhân do vi sinh vật có xu hướng giảm rõ, trong khi đó nguyên nhân ngộ độc do hóa chất có xu hướng tăng lên [21]. Thống kê số ca NĐTP cả nước năm 2007 - 2014 Biểu đồ 1.
Thống kê số vụ NĐTP, số ca chết do NĐTP cả nước 2007 - 2014 Theo biểu đồ 1.2 ở trên và theo số liệu NĐTP 10 tháng đầu năm 2015 của Cục An toàn thực phẩm cả nước có 150 vụ NĐTP, làm 4.077 người mắc, 21 người tử vong [23]. Ở giai đoạn từ năm 2009 đến 2014, số vụ NĐTP và số ca NĐTP vó xu hướng giảm hơn trước vì giai đoạn này do công tác ATTP được Nhà nước và xã hội quan tâm nhiều hơn. Năm 2009, hệ thống Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm các tỉnh được thành lập và bắt đầu hoạt động, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 ra đời. 9 Bệnh truyền qua thực phẩm là nguy cơ lớn đối với sức khỏe con người và giống nòi do sử dụng lâu dài thực phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm.
Hiện nay Bộ Y tế đã xác định được tỷ lệ ca bệnh truyền qua thực phẩm là 7-22 ca/100. Cơ cấu bệnh truyền qua thực phẩm chủ yếu được ghi nhận: tiêu chảy (75 - 89,7%), lỵ trực khuẩn (2,2 - 4,6%), thương hàn (0,5 - 1,2%), viêm gan vi rút A ( 0,2 - 0,86%). Cơ cấu nguyên nhân NĐTP cấp tính và các bệnh truyền qua thực phẩm thường gặp do vi sinh vật và độc tố (74,5% số ca NĐTP), độc tố tự nhiên (18,75%), hóa chất (2,8%), các nguyên nhân khác chiếm 3,9% số ca NĐTP [8]. Số vụ NĐTP có nguyên nhân do vi sinh vật có xu hướng giảm rõ, trong khi đó nguyên nhân ngộ độc do hóa chất có xu hướng tăng lên [21].
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngộ độc trên. Một trong những nguyên nhân là do kiến thức, thực hành về ATTP người người chế biến chính không tốt, điều kiện vệ sinh cơ sở không đảm bảo, nguyên liệu thực phẩm không an toàn, phương pháp chế biến, bảo quản không đúng cách. Mô hình cải thiện An toàn thực phẩm đối với dịch vụ ăn uống 1.1 Mục tiêu mô hình Nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm (ATTP) đối với dịch vụ ăn uống (DVAU) nhằm giảm thiểu ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm góp phần bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng và văn minh đô thị.