Chương 1: Những vấn dé lý luận về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay; = Chương 2: Đăng ký giao dịch bảo đảm bang tàu bay theo Công ước và Nghị định thư Cape Town; = _ Chương 3: Kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam đối với đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay. CHUONG 1 - NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO DỊCH BẢO DAM BẰNG TÀU BAY 1. Khái niệm Giao dịch bảo đảm 1.1 Khái niệm giao dịch bảo đảm của một số nước trên thế giới Giao dich bao đảm được hiểu là một giao dịch áp dụng biện pháp dé dam bảo khoản vay hoặc khoản tín dụng mà bên cho vay (chủ nợ) yêu cầu bên vay (con nợ) phải sở hữu tài sản bảo đảm và sẽ được quyền tịch thu và chiếm hữu tài sản đó trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vu trả nợ. Các quyên và nghĩa vụ của các bên được ghi nhận bằng khế ước hoặc một hợp đồng bảo đảm.
Giao dịch bảo đảm đã xuất hiện từ lâu và được ghi nhận trong các hệ thống pháp luật cổ đại. Luật La mã cô đại phân loại các khoản vay thành vay tiêu dùng, vay sử dụng, đặt cọc và cầm cố”. Theo đó, một khế ước cầm cô chính là một biện pháp bảo đảm, theo đó bên vay cầm có tài sản thuộc sở hữu của minh ma không chuyền giao quyền sở hữu cho bên nhận cầm cô. Đến han mà bên cầm cố không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, bên nhận cầm cố sẽ bán tài sản cầm cố để khấu trừ vào khoản nợ.
Các quy định này chính là tiền đề về “giao dịch bao đảm” sau này. Tuy nhiên, cũng giống như các khái niệm pháp lý khác, giao dịch bảo đảm, hình thức bảo đảm cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan cũng phải trải qua một thời gian dài định hình và hoàn thiện. Kế thừa những khái niệm về biện pháp bảo đảm, hệ thống luật các nước đều quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan tới giao dịch về tài sản. Ví dụ, quy định về giao dịch bảo đảm tại Hoa Kỳ là một phần quan trọng của pháp luật và kinh tế của đất nước này.
Bằng cách cho phép bên cho vay có ? Mihai OLARIU, Ph.D University Lecturer ,“Contracts in Roman Law”, Romanian-American University, Bucharest 10 một quyền lợi bảo đảm đối với một tài sản thế chấp thuộc sở hữu của bên vay, pháp luật đã tạo cơ sở bảo đảm cho bên cho vay với một đạo luật trong trường hợp vỡ nợ của bên vay. Đối với tất cả năm mươi tiêu bang, Điều 9 của Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) điều chỉnh các giao dịch bảo đảm với quyền lợi bảo đảm được thiết lập đối với tài sản cá nhân. Bộ luật này cho phép bên cho vay (chang hạn như ngân hàng) có thé cho các doanh nghiệp vay khi họ có tài sản (chăng hạn như thiết bi) có thé lấy làm tài sản thé chấp. Đây là cơ sở dé thực thi các quyền lợi bảo đảm đối với động sản, tài sản vô hình và đồ đạc.
Các giao dịch bảo đảm đối với bat động sản không được quy định tại Điều 9 kế trên, mà được quy định tại luật sở hữu bat động sản — có sự khác nhau giữa các khu vực pháp lý. Pháp luật dân sự Pháp quy định tương đối chi tiết về biện pháp thé chấp tài sản. Điều 2114 Bộ Luật Dân Sự Pháp quy định về quyền thế chấp: “Quyền thế chấp là một quyền tài sản trên những bất động sản được sử dụng vào việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Về ban chất, quyền thé chấp không thé phân chia và tôn tại trên tất cả các bất động sản thế chấp, thế chấp tiếp tục trên các bất động sản dù bất động sản đã chuyên dịch sang tay người khác”3.
Theo pháp luật dan sự Pháp thì biện pháp thế chấp có đối tượng là bat động sản, không có sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp. Tuy từng nước có các quy định khác nhau nhưng một định nghĩa chung về “giao dịch bao đảm” (hay “quyền lợi bảo dam” - security interest) được công nhận rộng rãi là một giao dịch/lợi ích được thỏa thuận hoặc theo quy định pháp 3_ hfips://phalthy.com/2006/1 1/civil-code-france.doc, truy cập ngày 17/7/2016. Bản dịch tiếng Anh của Điều 2114 “A mortgage is a right in rem on immovables allocated to the discharge of an obligation. It is, by its nature, indivisible and subsists in entirety on all the immovables allocated, on each one and on each portion of those immovables.
It follows them, in whatever hands they may pass.” 11 luật đối với tài sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ, thông thường là nghĩa vụ trả nợ”. Theo dòng thời gian, các hệ thống pháp luật civil law hay common law có những quy định khác nhau về khái niệm giao dịch bảo đảm. Ngày nay, để tạo sự thống nhất và dễ dàng nghiên cứu, tra cứu và áp dụng, Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) đã soạn thảo và phát hành Hướng dẫn pháp lý về giao dich bảo đảm năm 2007, với mục đích hỗ trợ các quốc gia xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm “thế hệ mới”. Cuốn sách này ra đời với kỳ vọng giúp ích được cho những quốc gia hiện thời chưa có những quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm cũng như các quốc gia mong muốn xây dựng các quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm tiến bộ ` - ` re ~ RK.
r 5 hon và hai hòa với những quôc gia khác.2 Khái niệm giao dịch bao dam tại Việt Nam 1.1 Thời kỳ trước Bộ luật Dân sự số 44-L/CTN ngày 28 tháng 10 năm 1995 (“Bộ luật Dán sự 1995”) Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi Nhà nước chi phối và quản lý toàn bộ các giao dịch thương mại thì việc tự do giao kết hợp đồng giữa các chủ thé bình đăng và tự chịu mọi trách nhiệm hầu như không tôn tại, do đó, thời kỳ này không có pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Cho đến năm cuối cùng của thập ky 80 của thế kỷ trước, khi Việt Nam bước vao giai đoạn đầu của quá trình thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, với việc ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (năm 1989), Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (năm 1991), lần đầu tiên các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng kinh tế được luật hóa trong văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm: thế châp tài sản, câm cô tài sản, bảo lãnh, đặt cọc đã được luật hoá trong văn bản * Từ điển Black’s - 2004 "Uy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế, (2007), “, “UNCITRAL Legislation Guide on Secured Transaction’, phan Mo dau. 12 quy phạm pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu thực hiện chuyên đổi nền kinh tế, giao dich bảo đảm mới được tiếp cận dưới giác độ là biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế chứ chưa phải là đối tượng của hoạt động đăng ký với ý nghĩa công khai hoá các quyền tồn tại từ trước đối với tài sản bảo đảm nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro pháp lý cho các giao dịch được thiết lập sau liên quan đến tài sản đó.2 Thời kỳ ra đời Bộ luật Dan sự 1995 Với sự ra đời của Bộ luật Dân sự 1995, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã được quy định đầy đủ hơn, bao gồm các quy định chung về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và các quy định cụ thể về từng biện pháp cầm có, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, phạt vi phạm.
Đây có thé xem là một bước tiễn mới của pháp luật dân sự nước ta trong cách tiếp cận về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, việc Pháp lệnh hợp đồng kinh tế có hiệu lực thi hành song song với Bộ luật Dân sự 1995 đã làm cho tình trạng cùng ton tại các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong pháp luật dân sự và pháp luật kinh tế với những quan điểm và nội dung pháp lý không thống nhất. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực tài chính ngân hang, dé thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh on A 1~. 6 riéng vé linh vuc nay’.
Điểm nhân đáng kể của pháp luật thời kỳ này là lần đầu tiên, thuật ngữ về giao dịch bảo đảm được quy phạm hoá trong một văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, đó chính là Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 165/1999/NĐ-CP). Theo quy định của Nghị định này, giao dịch bảo đảm được 5 Quy chế về cầm có, thé chấp tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 217/QĐ-NHI ngày 17/8/1996 của Thông doc Ngân hàng nhà nước. 13 hiểu “là hợp dong cam cố, thé chấp, bảo lãnh bằng tài sản theo đó bên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm về việc dùng tài sản dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự””. Từ quy định này cho thấy, Nghị định số 165/1999/NĐ-CP đã tiếp cận giao dịch bảo đảm với tư cách là một loại hình giao dịch dân sự, có danh vị độc lập là hợp đồng riêng biệt về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chứ không phải thuần tuý là thoả thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đi kèm hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế như quan niệm của pháp luật thời kỳ trước đó.
Với định nghĩa này, Nghị định số 165/1999/NĐ-CP đã thé hiện tư duy pháp luật mới về giao dich bảo đảm. Tuy nhiên, dấu ấn mang tính đột phá của pháp luật thời kỳ này là Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 về đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 08/2000/NĐ-CP). Lần đầu tiên, giao dịch bảo đảm được tiếp cận dưới giác độ đối tượng của hoạt động đăng ký với ý nghĩa công bố công khai lịch sử tồn tại của các quyền (giao dịch) cũng như chủ thé quyền (giao dịch) đối với tài sản bảo đảm.