Chương 1: Đảng lãnh đạo công tác thanh niên trong 10 năm đầu của sự nghiệp đổi mới (1986 - 1996). Chương 2: Đảng lãnh đạo công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1996 - 2006). Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên (1986 - 2006) 6 Chƣơng 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THANH NIÊN TRONG 10 NĂM ĐẦU CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI (1986 - 1996) 1. Khái quát phong trào thanh niên trƣớc 1986 1.
Quan điểm, chủ trương của Đảng về thanh niên và công tác thanh niên Ngay từ khi vừa mới ra đời, trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò, vị trí đặc biệt của thanh niên và Đoàn thanh niên Cộng sản. Quan điểm của Đảng về Đoàn thanh niên Cộng sản là: “một tổ chức của những thanh niên Cộng sản, thừa nhận và thi hành chương trình, điều lệ của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên về đường tổ chức, thanh niên phải có một đoàn thể độc lập, có cơ quan chỉ huy riêng của họ” [25, tr.169] và việc xây dựng Thanh niên Cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như là việc Đảng vậy. Đồng thời, Đảng chủ trương “mỗi chi bộ của Đảng phải phụ trách tổ chức ra một chi bộ của Đoàn” [25, tr.
Trên cơ sở đó, “các đoàn thể của Cộng sản thanh niên Đoàn sẽ theo chương trình, Điều lệ của Đảng Cộng sản mà làm việc và phải tham gia hết thảy những cuộc tranh đấu, phải hết sức giúp cho Đảng” [25, tr. Những quan điểm cơ bản đầu tiên trên đây của Đảng đã đặt nền móng cho công tác vận động thanh niên ở nước ta, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của phong trào yêu nước trong thanh niên đang phát triển mạnh mẽ và đã thực sự 7 tạo nên những chuyển biến đối với công tác xây dựng Đoàn thanh niên Cộng sản, tổ chức thanh niên kiểu mới ở nước ta. Trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, các chủ trương của Đảng về công tác thanh niên đã từng bước được bổ sung cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Dưới ánh sáng các Nghị quyết về công tác thanh niên của Đảng, phong trào thanh niên cả nước phát triển ngày càng vững chắc, tổ chức Đoàn lớn mạnh trong cả nước, góp phần đào tạo, bồi dưỡng nên một thế hệ thanh niên mới đủ năng lực và phẩm chất kế tục một cách trung thành và xuất sắc sự nghiệp của Đảng và của dân tộc.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần IV của Đảng (12/1976) chỉ rõ: phải tích cực đào tạo, bồi dưỡng thanh niên về văn hoá, khoa học và kỹ thuật, về quản lý và nghề nghiệp; quan tâm đến quyền lợi của tuổi trẻ, điều kiện lao động, học tập, hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao… của thanh niên. Chủ trương của Đại hội IV tiếp tục được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982) quán triệt sâu sắc hơn thông qua việc xác định: công tác vận động thanh niên có tầm quan trọng đặc biệt, là vấn đề chiến lược của cách mạng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị. Những chủ trương trên đây đã thể hiện nhận thức đúng đắn của Đảng về công tác thanh niên khi cách mạng cả nước chuyển sang giai đoạn mới. Ngày 4/7/1985, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về “Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên”.
Nghị quyết nêu rõ: “vận động thanh niên là một nhiệm vụ chính trị rất quan trọng của Đảng, làm tốt công tác thanh niên là bảo đảm sự kế tục và phát triển không ngừng của chế độ ta, bảo đảm hiện tại cũng như tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng”[62, tr. Đồng thời Nghị quyết 8 cũng chỉ ra rằng, trong thời gian qua, nhiều cấp uỷ Đảng và chính quyền chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng chiến lược của công tác vận động thanh niên cho nên coi thường và buông lỏng công tác này, mất cảnh giác với kẻ thù. Nhiều cán bộ Đảng viên thiếu ý thức trách nhiệm, có thái độ hẹp hòi, không đánh giá đúng bản chất của thanh niên. “Đảng chưa chỉ đạo tốt sự phân công và phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản để chăm sóc và bồi dưỡng thế hệ trẻ, chưa phát huy đầy đủ vai trò chính trị của tổ chức Đoàn” [62, tr.
Từ nhận định trên, Nghị quyết 26 của Bộ chính trị đã xác định phương hướng công tác thanh niên là: tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng, nâng cao trách nhiệm của hệ thống chính trị với công tác thanh niên; nâng cao lòng yêu nước và trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, bồi dưỡng đạo đức cách mạng; xây dựng lối sống lành mạnh, nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và nâng cao thể lực, phát triển khả năng sáng tạo của tuổi trẻ; thông qua lao động, chiến đấu học tập và hoạt động xã hội mà đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ nước ta thành lớp người mới xã hội chủ nghĩa, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc… Đối với việc xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn, Nghị quyết 26 đề ra những giải pháp quan trọng nhằm ngăn chặn sự suy giảm về số lượng, chất lượng Đoàn viên, đó là: Các cấp uỷ Đảng phải trực tiếp chăm lo xây dựng Đoàn, có kế hoạch và biện pháp xây dựng, củng cố Đoàn mà trước hết là chọn thanh niên tiên tiến kết nạp vào Đoàn, tăng nhanh số lượng Đoàn viên, tr.ước hết là ở địa bàn xung yếu; bồi dưỡng Đoàn viên ưu tú để kết nạp vào Đảng; cần tạo dựng đội ngũ cán bộ Đoàn hăng hái, nhiệt tình, nắm bắt được đường lối, chính sách của Đảng, được tuổi trẻ tin yêu, mến phục; Ban tổ chức Đảng các cấp phải có quy hoạch lựa chọn, bồi dưỡng, đào tạo và luân chuyển cán 9 bộ Đoàn để vừa xây dựng bộ máy của Đoàn vừa tăng cường lực lượng trẻ cho Đảng. Các trường Đảng cần có chương trình giảng dạy về công tác thanh niên và dành một tỷ lệ thích đáng đào tạo cán bộ Đoàn. Xây dựng hệ thống trường Đoàn các cấp, nâng cao chất lượng đào tạo trường Đoàn cao cấp trung ương, trường Đoàn trung cấp ở tỉnh và sơ cấp ở huyện. Nghị quyết 26 yêu cầu xây dựng chế độ và nề nếp lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên, theo đó Đảng đưa công tác thanh niên vào chương trình làm việc thường xuyên của mình; thường vụ cấp uỷ có chế độ định kỳ làm việc với tập thể Ban chấp hành Đoàn, chọn cán bộ tốt, có năng lực được thanh niên quý mến thực sự làm bí thư Đoàn và bồi dưỡng đưa vào cấp uỷ; Đảng viên phải gương mẫu cho thanh niên noi theo, Đảng viên ở độ tuổi thanh niên phải tham gia sinh hoạt Đoàn, làm nhiệm vụ đoàn viên và phải là đoàn viên tiên tiến.
Nghị quyết 26 của Bộ chính trị được phổ biến đến các chi bộ Đảng trong cả nước. Đồng thời Ban Bí thư Trung ương Đảng có chỉ thị hướng dẫn thực hiện Nghị quyết. Trong điều kiện đất nước đang khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, Nghị quyết 26 của Bộ chính trị đã từng bước đi vào cuộc sống và giải quyết được một số vấn đề thiết thực cho công tác vận động thanh niên của Đảng. Thực trạng công tác thanh niên và phong trào thanh niên Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với phong trào tòng quân, giết giặc lập công; tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; đi dân công phục vụ tiền tuyến và phong trào đấu tranh trong vùng địch tạm chiếm.
Thanh niên Việt Nam đã góp phần tích cực xây dựng chế độ mới và là lực lượng quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đoàn thanh niên ở Miền Bắc đã tổ chức nhiều hình thức hoạt động, trong đó có các phong trào 10 “Thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa”, phong trào “Xung phong tình nguyện vƣợt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” và phong trào “Ba sẵn sàng”. Các phong trào đã thu hút được đông đảo các đối tượng thanh niên tham gia, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Miền Bắc. Cùng thời gian này, tuổi trẻ miền Nam đã tích cực đấu tranh chính trị, diệt ác, phá kìm kẹp, tiến tới động khởi giành quyền làm chủ về tay nhân dân.
Thanh niên nông thôn, thanh niên công nhân, đô thị đều tích cực tham gia cuộc đấu tranh chống Mỹ- Diệm, đặc biệt là cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên có bước phát triển mới. Tiêu biểu thời kỳ này là phong trào “Năm xung phong” của thanh niên Miền Nam đã động viên sức trẻ sẵn sàng xung phong góp phần cùng cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất kỳ tình huống nào với lẽ sống: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1930 - 1975, do điều kiện đất nước còn có chiến tranh, Đoàn thanh niên còn nhiều bất cập trong công tác tổ chức. Giữa tổ chức Đoàn và Liên Đoàn thanh niên Việt Nam (sau này là Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam) thiếu sự gắn bó và phối hợp trong hoạt động; có những thời điểm việc kết nạp đoàn viên có nơi làm ồ ạt, chạy theo số lượng; công tác phát triển đoàn viên và xây dựng Đoàn trong các lực lượng vũ trang và trong công nhân còn chậm, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn chưa được quan tâm đúng mức.
Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cách mạng Việt nam chuyển sang một giai đoạn mới: cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thế hệ trẻ Việt nam đã phát huy vai trò xung kích cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ. 11 Trong hai năm 1976 - 1977, công tác Đoàn và phong trào thanh niên đã đạt nhiều thành tích: Phong trào lao động tình nguyện xây dựng Tổ quốc đã phát triển mạnh mẽ.