Đặt vấn đề Trình bày tổng quan về thương mại điện tử, khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử ở Việt Nam, vai trò của hệ thống thanh toán điện tử đối với thương mại điện tử, mục đích, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn. Phân tích các hiểm họa đối với an toàn hệ thống Chương 2 trình bày về mục đích và phân loại đảm bảo an toàn hệ thống và tiến hành phân tích các nguy cơ, hiểm họa xảy ra đối với hệ thống thanh toán điện tử trực tuyến. Các giải pháp đảm bảo an toàn hệ thống Chương 3 trình bày về các nguyên tắc đảm bảo an toàn, an ninh như đảm bảo tính bí mật, tính toàn vẹn và tính sẵn sàng của hệ thống. Sử dụng các kỹ thuật đảm bảo an toàn, an ninh như mã hóa, chữ ký số, chứng chỉ số để từ đó xây dựng các giải pháp đảm bảo an toàn, an ninh cho hệ thống.
Cuối cùng là đánh giá giải pháp thực hiện. eBill - Hệ thống thanh toán trực tuyến Chương 4 đề xuất ra mô hình của một hệ thống thanh toán điện tử trực tuyến và phân tích, thiết kế một hệ thống cụ thể. Xây dựng giải thuật SecurePayment đảm bảo an toàn cho các giao dịch trực tuyến. Nguyễn Sinh Thành Trang 19 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chương 5.
Đánh giá Chương 5 đánh giá về hệ thống đề xuất và thuật toán SecurePayment xây dựng. Kết luận, kiến nghị, hướng phát triển Chương 6 tóm tắt lại các kết quả đạt được của luận văn, đưa ra các khuyến nghị và hướng phát triển tiếp theo của đề tài. Nguyễn Sinh Thành Trang 20 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chương 2. Phân tích các hiểm họa đối với an toàn hệ thống 2.
Mục đích và phân loại đảm bảo an toàn hệ thống 2. Mục đích Cùng với sự phát triển của các hệ thống thanh toán điện tử trực tuyến thì vấn đề an toàn cần phải được quan tâm và tăng cường một cách tương xứng. Ví dụ, khi An tiến hành các giao dịch thanh toán tiền cho các sản phẩm, dịch vụ của mình, An gửi các lệnh thanh toán qua mạng Internet, tới hệ thống thanh toán. Trong khi đó, Bình, là một kẻ nghe lén trên đường truyền, có thể chặn các lệnh thanh toán của An để đọc, xem, sửa đổi, giả mạo các lệnh thanh toán đó.
Do đó, thông tin trong các giao dịch TMĐT, đặc biệt là trong các giao dịch tài chính của hệ thống thanh toán trực tuyến, giữa các đối tác kinh doanh, rất nhạy cảm và cần thiết phải được bảo vệ. Vì vậy, các hệ thống thanh toán trực tuyến phải có chức năng chống lại các cuộc tấn công với mục đích khám phá, sửa đổi, giả mạo thông tin. Có rất nhiều dạng tấn công: có thể tấn công trên đường truyền thông, ngăn chặn các thông điệp giữa máy chủ và máy khách, nhằm nắm bắt nội dung thông tin.1 là một ví dụ mô tả các đối tượng tham gia truyền thông trên đường truyền: ` Bình KH: Nguyễn Văn An Số TK: 12345 Ngân hàng: VCB Số tiền: 50.000đ Dịch vụ: Internet ADSL Mã KH: 98765 Tháng: 09/2008 ` Kênh truyền thông An Hệ thống thanh toán Hình 2. Các đối tượng truyền thông trên kênh truyền Nguyễn Sinh Thành Trang 21 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Như trên hình 2.1, ngoài các đối tượng truyền thông với nhau, bao gồm: máy khách (An), kênh truyền thông và máy chủ còn có các tin tặc (hacker).
Các tin tặc có thể nhòm ngó vào máy khách hoặc chính máy chủ, là các điểm nguồn và đích của thông điệp, hoặc nghe lén đường truyền để đọc được nội dung các thông điệp. Dù ở dạng nào, hệ thống cũng cần có các chính sách thích hợp để phản ứng và ngăn chặn các cuộc tấn công trên. Một hệ thống thanh toán trực tuyến cần phải đảm bảo (i) tính bí mật, (ii) tính toàn vẹn dữ liệu và thông tin, (iii) tính sẵn sàng: 2.Tính bí mật (confidentiality) Tính bí mật liên quan đến sự bí mật của thông tin, có nghĩa là chỉ những người có quyền mới được phép xem và sửa đổi nội dung thông tin. Trên thực tế, nhiều thông tin nhạy cảm có thể bị xâm phạm bất hợp pháp và điều này có thể gây ra những hậu quả rất lớn nếu không được ngăn chặn.
Đe dọa tính bí mật là một trong những mối hiểm họa hàng đầu và rất phổ biến. Kế tiếp theo tính bí mật là tính riêng tư. Tính bí mật và tính riêng tư là hai vấn đề khác nhau. Đảm bảo tính bí mật là ngăn chặn khám phá trái phép thông tin.
Đảm bảo tính riêng tư là bảo vệ các quyền cá nhân trong việc chống khám phá. Đảm bảo tính bí mật là vấn đề mang tính kỹ thuật, đòi hỏi sự kết hợp của các cơ chế vật lý và logic, trong khi đó luật pháp sẵn sàng bảo vệ tính riêng tư. Một ví dụ điển hình về sự khác nhau giữa tính bí mật và tính riêng tư là thư điện tử. Các thư điện tử của một tổ chức có thể được bảo vệ chống lại các xâm phạm tính bí mật bằng cách sử dụng kỹ thuật mã hóa.
Thư ban đầu được mã hóa và chỉ có người nhận hợp lệ mới có thể giải mã trở về dạng thư ban đầu. Các vấn đề riêng tư trong thư điện tử thường xoay quanh việc có nên cho những người quản lý của tổ chức đọc thư của người khác một cách tùy tiện hay không. Trọng tâm của mục này là tính bí mật, ngăn chặn không cho các đối tượng xấu đọc thông tin trái phép. Để tránh không bị xâm phạm tính bí mật là việc rất khó.2 sau đây mô tả việc xâm phạm tính bí mật của thông tin: Nguyễn Sinh Thành Trang 22 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KH: Nguyễn Văn An Số TK: 12345 Ngân hàng: VCB Số tiền: 50.000đ ` Dịch vụ: Internet ADSL Mã KH: 98765 Tháng: 09/2008 Bình KH: Nguyễn Văn An Số TK: 12345 Ngân hàng: VCB Số tiền: 50.000đ Dịch vụ: Internet ADSL Mã KH: 98765 Tháng: 09/2008 ` Kênh truyền thông An Hệ thống thanh toán Hình 2.
Xâm phạm tính bí mật của thông tin Trên hình 2.2 ta thấy, khi An gửi cho hệ thống thanh toán trực tuyến lệnh thanh toán giá tiền Internet ADSL tháng 09/2008, lệnh thanh toán bao gồm các thông tin như: số thẻ tín dụng của An tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, mã số khách hàng dịch vụ Internet ADSL của An, số tiền cần phải thanh toán. Đảm bảo tính bí mật là chỉ có hệ thống thanh toán trực tuyến mới được xem các thông tin này, nhưng Bình là một kẻ nghe trộm trên đường truyền, Bình đã bắt được gói tin chứa lệnh thanh toán trên và biết được các thông tin thanh toán của An. Như vậy, Bình đã vi phạm tính bí mật. Vì vậy, nguy cơ xâm phạm tính bí mật được thực hiện bởi một đối tượng xấu lấy cắp các thông tin nhạy cảm và mang tính cá nhân như số tài khoản ngân hàng, số tiền, số thẻ tín dụng, tên, địa chỉ và các sở thích cá nhân.
Điều này có thể xảy ra bất cứ lúc nào, khi có người nào đưa các thông tin đó lên Internet, đối tượng xấu có thể ghi lại các gói thông tin (xâm phạm tính bí mật) không mấy khó khăn. Tình trạng lấy cắp số thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng, số tiền là một vấn đề đã quá rõ ràng, ngoài ra các thông tin sản phẩm độc quyền của công ty, tổ chức, hoặc dữ liệu được gửi đi cho các chi nhánh của công ty, tổ chức cũng bị chặn xem một cách dễ dàng. Thông thường các thông tin bí mật của công ty, tổ chức còn có giá trị hơn nhiều so với số thẻ tín dụng, số tài khoản Ngân hàng bởi vì thẻ tín dụng thường có giới hạn về số lượng tiền, trong khi đó các thông tin bị lấy cắp của công ty, tổ chức có thể thiệt hại lên đến hàng tỷ đồng. Nguyễn Sinh Thành Trang 23 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 2.Tính toàn vẹn dữ liệu, thông tin (integrity) Tính toàn vẹn liên quan tới sự chính xác và hoàn tất của thông tin, hay thông tin đi từ nguồn tới đích, đảm bảo không bị sửa đổi.
Tính toàn vẹn xác định bên nhận đã nhận được đúng thông tin mà bên gửi đã gửi hay không, hay thông tin đã bị thay đổi trong khi truyền hoặc lưu giữ. Bên nhận một thông tin điện tử cần phải tin chắc về tính toàn vẹn của dữ liệu trước khi trả lời hoặc thực hiện theo thông tin đó. Trên thực tế, nhiều thông tin nhạy cảm bị kẻ xấu chặn lại trên đường đi, tìm cách sửa đổi nội dung rồi tiếp tục gửi đến địa chỉ đích mà người nhận hoàn toàn không biết về việc sửa đổi này. Do vậy, hệ thống thanh toán trực tuyến cần có những giải pháp kiểm soát thông tin, nhằm phát hiện ra sự mạo danh cũng như sự không toàn vẹn của thông tin.
Mối hiểm họa đối với tính toàn vẹn tồn tại khi một đối tượng trái phép có thể sửa đổi các thông tin trong một thông điệp. Xâm phạm tính toàn vẹn bao hàm cả xâm phạm tính bí mật bởi vì một đối tượng xâm phạm (sửa đổi thông tin) có thể đọc và làm sáng tỏ các thông tin. Không giống hiểm họa đối với tính bí mật (người xem đơn giản chỉ muốn xem thông tin), các hiểm họa đối với tính toàn vẹn là gây ra sự thay đổi trong các hoạt động của cá nhân hoặc công ty, tổ chức do nội dung truyền thông đã bị sửa đổi.3 sau đây mô tả về việc xâm phạm tính toàn vẹn của thông tin, dữ liệu: KH: Nguyễn Văn An Số TK: 12345 Ngân hàng: VCB Số tiền: 50.000đ ` Dịch vụ: Internet ADSL Mã KH: 56789 Tháng: 09/2008 Bình KH: Nguyễn Văn An KH: Nguyễn Văn An Số TK: 12345 Số TK: 12345 Ngân hàng: VCB Ngân hàng: VCB Số tiền: 50.000đ Dịch vụ: Internet ADSL Dịch vụ: Internet ADSL Mã KH: 98765 Mã KH: 56789 Tháng: 09/2008 Tháng: 09/2008 ` Kênh truyền thông An Hệ thống thanh toán Hình 2. Xâm phạm tính toàn vẹn của thông tin Trên hình 2.3 ta thấy, cũng lệnh thanh toán giá tiền Internet ADSL như trên của An, ngoài việc chặn được gói tin, biết được các thông tin thanh toán của An, Nguyễn Sinh Thành Trang 24 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Bình còn sửa đổi mã số khách hàng dịch vụ Internet ADSL của An thành của Bình, do đó lệnh thanh toán thay vì thanh toán cho An, lại thanh toán cho Bình.
Như vậy, Bình đã vi phạm tính toàn vẹn của dữ liệu. Từ ví dụ trên ta thấy rằng tấn công toàn vẹn chính là việc sửa đổi một yêu cầu và gửi yêu cầu đó tới máy chủ thương mại của một công ty, tổ chức.