Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chương này sẽ tập trung vào các vấn đề chính: Tình hình nghiên cứu tùy bút ở đô thị miền Nam và đánh giá chung cùng những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Đây là chương nghiên cứu tổng quan, làm cơ sở để triển khai nội dung các chương kế tiếp.
Diện mạo tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975). Chương này tập trung phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề: khái lược diện mạo văn học ở đô thị miền Nam; khái niệm và đặc trưng của tùy bút, tùy bút ở đô thị miền Nam; quá trình vận động và các nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến sự phát triển của tùy bút ở đô thị miền Nam… Chương 3. Cảm hứng thời đại trong tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975). Nội dung chương này tập trung vào việc phân tích, chỉ ra cảm hứng thời đại trong tùy bút ở đô thị miền Nam qua các vấn đề: nhân sinh, văn hóa, lịch sử dân tộc.
Mục đích của chương là làm sáng tỏ các luận điểm về đặc trưng thẩm mỹ cơ bản, cảm hứng chủ đạo trong các tác phẩm tùy bút ở đô thị miền Nam; những vấn đề liên quan đến thế giới quan, nhận thức tư tưởng của nhà văn trước thời cuộc. Đặc điểm nghệ thuật tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975). Nội dung của chương này tập trung vào các phương diện thuộc về nghệ thuật, thủ pháp, thi pháp của tùy bút ở đô thị miền Nam. Một số yếu tố như kết cấu, dung lượng, ngôn ngữ và giọng điệu của thể loại tùy bút sẽ được khảo sát một cách chi tiết.
6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Cho đến nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu về tùy bút ở đô thị miền Nam giai đoạn 1945 – 1975, không phải là việc dễ dàng. Trên thực tế, trở ngại lớn nhất đối với hoạt động nghiên cứu lại chính là vấn đề văn bản, tài liệu. Sau khi đất nước thống nhất, rất nhiều tác phẩm thuộc văn học miền Nam giai đoạn này đã không được bảo quản, lưu giữ một cách cẩn thận, đầy đủ; các thư tịch, tài liệu liên quan đến sinh hoạt văn học ở miền Nam cũng bị thất tán nghiêm trọng.
Ngoài số tài liệu hiện đang trong các kho lưu trữ (Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh…) không ít ấn phẩm hiện nay lại thuộc sở hữu của một số nhà sưu tập sách trong nước và nước ngoài. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động nghiên cứu văn học đô thị miền Nam thời kỳ trước 1975. Tình hình nghiên cứu tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975) Mặc dù việc nghiên cứu văn học miền Nam (giai đoạn 1954 – 1975) nói chung, thể loại tùy bút ở đô thị nói riêng đã diễn ra từ rất sớm. Có thể nói ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, đã có nhiều bài viết, công trình liên quan đến đối tượng này được công bố.
Tuy vậy, cho tới nay vẫn còn rất thiếu những công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống. Qua tìm hiểu của chúng tôi, những nghiên cứu, phê bình về tùy bút ở đô thị miền Nam lâu nay thường diễn ra một cách đơn lẻ: hoặc đề cập đến tùy bút như một yếu tố của lịch sử văn học (miền Nam), hoặc xem là một bộ phận trong sự nghiệp sáng tác của một tác giả. Những cách tiếp cận này tất nhiên không thể khám phá hết đặc trưng, đặc điểm của thể loại văn học vốn rất đa dạng này. Thể loại tùy bút trong cái nhìn chung về văn học miền Nam Ngay sau sự kiện đất nước bị chia cắt (năm 1954), ở miền Nam, gần như tất cả mọi thứ đều rẽ theo một quỹ đạo riêng mà sáng tác và nghiên cứu văn học cũng không ngoại lệ.
Nhìn chung, dù xã hội miền Nam lúc bấy giờ có nhiều biến 7 động phức tạp, song các hoạt động nghiên cứu văn học ở khu vực này vẫn được chú trọng và được tiến hành bởi nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Ngu Í (Nguyễn Hữu Ngư), Tạ Tỵ, Nguyễn Mộng Giác, Doãn Quốc Sỹ, Cao Huy Khanh, Huỳnh Phan Anh, Võ Phiến. Ban đầu, văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975 được nghiên cứu, giới thiệu qua những bài viết điểm sách, giới thiệu sách, những bài phê bình văn học… trên các báo, tạp chí đương thời (Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Tin Sách, Thời Tập, Tư Tưởng, Sáng Tạo, Trình Bày…). Trên cơ sở đó, một số người đã tập hợp thành các tập sách. Chẳng hạn tuyển tập Sống và viết với.
(1966) của Nguyễn Ngu Í. Đây là cuốn sách tập hợp tiểu sử và chân dung của 12 nhà văn đương thời. Có thể xem đây là một trong những công trình sớm nhất về nghiên cứu văn học đô thị miền Nam (1954 – 1975). Tiếp sau công trình của Nguyễn Ngu Í là hai công trình mang tính chất nhận định văn học: Mười khuôn mặt văn nghệ (1970) và Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (1972) của Tạ Tỵ.
Cả hai cuốn sách này đều tập trung vào việc trình bày các đặc điểm, phong cách của một số cây bút cũng như sự đóng góp của họ cho văn học miền Nam lúc bấy giờ. Văn học đô thị miền Nam còn được điểm đến qua một số công trình nghiên cứu như: Văn chương và kinh nghiệm hư vô (NXB Hoàng Đông Phương, Sài Gòn, 1968), “Nghĩ về văn chương” (Khởi hành, số 6 - 1969, Sài Gòn xuất bản), Đi tìm tác phẩm văn chương (Nxb Đồng Tháp, Sài Gòn, 1972)… của Huỳnh Phan Anh; “Sơ thảo 15 năm văn xuôi miền Nam” (Khởi Hành số 75, ngày 15-10-1970), “Mười lăm năm văn xuôi…” (Khởi Hành số 76, ngày 22-10- 1970), “Nhà văn miền Nam: Vấn đề khuynh hướng riêng vấn đề trào lưu chung” (Tập san Thời Tập, số 4, ra ngày 25/06/1974) của Cao Huy Khanh; Tiểu thuyết Việt Nam thế hệ 1932 -1945 (Đại học số 2 tháng 4/1961) của Thanh Lãng, Tiểu thuyết hiện đại (Thời mới, 1963) của Tràng Thiên; Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (Nam Sơn xuất bản, 1965), Nhận định (Đại học, Sơn Nam xuất bản) của Nguyễn Văn Trung; “Sự hình thành của tiểu thuyết mới” trong Việt Nam văn học 8 sử giản ước tân biên (Quốc học Tùng thư xuất bản, 1965) của Phạm Thế Ngũ; Chuyện phiếm về tiểu thuyết (Văn, số 34, ra ngày 15/5/1965) của Triều Sơn; Văn học và tiểu thuyết (Sáng tạo xuất bản, 1973) của Doãn Quốc Sỹ… Ở các công trình này, vấn đề chủ yếu là tìm hiểu, phân tích các thể loại văn học và qua đó ít nhiều khắc họa được bức tranh của văn học đô thị miền Nam bấy giờ. Nhìn chung, các bài nghiên cứu thời kỳ này vừa có cái nhìn tổng thể về sáng tác vừa có cái nhìn cụ thể qua một số khía cạnh của các tác giả, qua đó đánh giá thành công cũng như chỉ rõ những hạn chế, đặc điểm của từng cây bút, sự đóng góp của họ cho văn học miền Nam. Ngoài một số công trình nghiên cứu nêu trên, tại miền Nam lúc bấy giờ còn có các sinh hoạt như toạ đàm, diễn thuyết về văn học tại các trung tâm văn hoá, các thư viện và các trường đại học (Văn khoa Huế, Vạn Hạnh.
Tuy nhiên những bài giới thiệu, những buổi sinh hoạt như thế này chỉ dừng ở mức độ giới thiệu sách, chưa có nhiều bài nghiên cứu một cách tỉ mỉ, hệ thống và kỹ lưỡng. Khác với miền Nam, ở miền Bắc, sau 1954, các vấn đề liên quan đến văn học đều được hướng theo quan điểm, đường lối xã hội chủ nghĩa, cách mạng dân tộc. Tất cả các hoạt động liên quan đến văn học nghệ thuật (sáng tác, phê bình, khảo cứu, dịch thuật, giới thiệu sách báo…) cũng đều vận động theo dòng chung này. Những vấn đề thuộc văn học ở miền Nam dưới sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã trở thành đối tượng được “quan tâm đặc biệt”.
Nhìn chung, giới nghiên cứu, phê bình ở miền Bắc lúc bấy giờ thường phê phán, đả kích và phủ nhận tất cả những gì thuộc về văn học miền Nam. Trong bối cảnh như vậy, dĩ nhiên tùy bút ở đô thị miền Nam cũng chịu chung số phận với văn học miền Nam lúc bấy giờ. Tính từ 1954 đến 1975, đã có hàng trăm bài viết về văn học đô thị miền Nam được giới nghiên cứu đăng tải trên báo chí xuất bản ở miền Bắc. Theo thống kê của nhà nghiên cứu Trần Trọng Đăng Đàn: “chỉ tính riêng trên các báo chí xuất bản ở miền Bắc Việt Nam như: tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản), tạp chí Nghiên cứu văn học (sau đổi thành tạp chí Văn học), Thông báo 9 Triết học (nay là tạp chí Triết học), Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu nghệ thuật, Tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Văn hóa nghệ thuật, Văn học, Văn nghệ, Nhân dân, Quân đội nhân dân, Cứu Quốc, Thống Nhất, v.v… đã có ngót ba trăm bài viết về vấn đề này.
Riêng trên tờ Nghiên cứu Văn học (sau đổi thành Tạp chí Văn học) – cơ qua nghiên cứu, lý luận, phê bình của Viện Văn học, từ 1960 đến 1975 – đã có ít nhất là 56 bài viết về văn học tại các vùng Mỹ-Ngụy kiểm soát ở Nam Việt Nam” [17, tr. Điểm chung dễ nhận thấy trong các công trình nghiên cứu lúc bấy giờ về văn học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 là thường chú trọng đến các vấn đề tư tưởng, đấu tranh giai cấp, lập trường, quan điểm chính trị… Một số nhà nghiên cứu cho rằng văn học đô thị miền Nam, trong đó có thể loại tùy bút, “sở dĩ không có giá trị tích cực đối với cuộc sống con người là bởi vì nó được sáng tác để phục vụ chính sách nô dịch của đế quốc Mỹ” [89]. Tất cả những vấn đề thuộc về văn hóa, tâm tư tình cảm của con người trong mảng văn học này chỉ là hàng thứ yếu, thậm chí là không nên có trong bối cảnh đất nước đang có chiến tranh, không nên có trong quá trình chiến đấu giành độc lập, tự do mà nhân dân đang ngày đêm mong ngóng. Vì lẽ đó, văn học đô thị miền Nam trong đó có thể loại tùy bút, bị xếp vào “hạng văn chương đi huỷ con người” [89] và vô giá trị, không đóng góp gì cho văn học dân tộc.
Điều này thể hiện rất rõ ngay từ tiêu đề của các công trình nghiên cứu.