Tổng quan luận án

Đề tài "Đặc điểm tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975)" do nghiên cứu sinh Bùi Tiến Sỹ thực hiện, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21) tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phong Nam và TS Hà Ngọc Hòa, bảo vệ năm 2016.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại, tùy bút giữ một vị trí quan trọng, góp phần tạo nên sự phong phú cho diện mạo văn học dân tộc và khẳng định tên tuổi của nhiều cây bút lớn. Tuy nhiên, mảng văn học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 nói chung và thể loại tùy bút tại các đô thị miền Nam nói riêng trong một thời gian dài vẫn là đối tượng ít được khảo sát toàn diện. Do những biến động lịch sử, chính trị cùng điều kiện lưu trữ phức tạp sau năm 1975, nhiều tác phẩm của khu vực văn học này vẫn còn xa lạ với công chúng đương đại, dù trên thực tế đây là một bộ phận không thể tách rời của tiến trình văn học dân tộc.

Trong hơn hai thập niên (1954 – 1975), văn học tại đô thị miền Nam dưới thể chế Việt Nam Cộng hòa đã để lại một khối lượng tác phẩm đáng kể về số lượng, đa dạng về thể loại và phức tạp về nội dung tư tưởng. Tùy bút ở khu vực đô thị miền Nam vừa phản ánh thực trạng đời sống xã hội và tâm lý thời đại, vừa bộc lộ chân dung tinh thần, ý hướng của người cầm bút, đóng vai trò kiến tạo diện mạo văn xuôi đương thời. Việc nghiên cứu thể loại này xuất phát từ yêu cầu nhận thức quy luật vận động nội tại của một thể tài văn học, đồng thời hướng tới việc nhận diện bản chất của lịch sử văn học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây đa phần chỉ tiếp cận tùy bút một cách đơn lẻ, hoặc xem tùy bút như một chi tiết phụ thuộc trong lịch sử văn học nói chung, hoặc đặt trong phạm vi sự nghiệp của từng tác giả riêng biệt. Do đó, một công trình khảo cứu chuyên sâu, bao quát và có hệ thống về tùy bút ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 vẫn còn bỏ ngỏ.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể trên hai bình diện:

  1. Về phương diện lý thuyết: Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của tùy bút ở đô thị miền Nam nhằm xác định đặc điểm, quy luật vận động của thể loại trong mối quan hệ tương tác với các thể loại văn học khác; đưa ra cách nhìn khách quan, khoa học về một thể loại văn học từng bị hiểu chưa thỏa đáng; tạo cơ sở giải quyết những vướng mắc về phương pháp tiếp cận và cách đánh giá văn học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975.
  2. Về phương diện thực tiễn: Cung cấp kết quả nghiên cứu ứng dụng cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu về văn học đô thị miền Nam nói chung và thể loại tùy bút nói riêng; mở rộng khả năng đối thoại học thuật từ cấp độ tư tưởng trong mối tương tác giữa văn chương và hiện thực đời sống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thể loại tùy bút trong giai đoạn 1954 – 1975, bao gồm hệ thống tác giả và tác phẩm được sáng tác, xuất bản tại khu vực đô thị miền Nam Việt Nam. Do điều kiện tiếp cận văn bản không thể bao quát toàn bộ, luận án tập trung khảo cứu các hiện tượng tiêu biểu gồm: Vũ Bằng (Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam / Món lạ miền Nam, Thương nhớ mười hai), Bình Nguyên Lộc (Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc), Sơn Nam (Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam), Nguyễn Xuân Hoàng (Ý nghĩ trên cỏ và các bài đăng trên tập san Văn), Võ Phiến – bút danh Tràng Thiên (Quê hương tôi, Tạp văn Tràng Thiên, Thư nhà, Ảo ảnh, Phù thế, Chúng ta, qua cách viết, Đất nước quê hương), Mai Thảo (Căn nhà vùng nước mặn, Tùy bút), Nguyễn Ngọc Lan (Chứng từ năm năm, Đường hay pháo đài, Cho cây rừng xanh lá, Nước ta còn đó), Thanh Tâm Tuyền (Tạp ghi).
  • Phạm vi không gian: Các trung tâm đô thị lớn ở miền Nam, trọng tâm là Sài Gòn, Huế và một số thành phố khác.
  • Phạm vi thời gian: Các tác phẩm tùy bút được sáng tác và xuất bản trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1975.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích chi tiết lịch sử nghiên cứu tùy bút đô thị miền Nam qua ba không gian tiếp nhận: miền Nam trước 1975, miền Bắc giai đoạn 1954 – 1975 (cùng giai đoạn trước Đổi mới), và các nghiên cứu tại hải ngoại cũng như giai đoạn từ sau năm 1986 đến nay.

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Nghiên cứu tại đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975: Hoạt động nghiên cứu diễn ra sớm dưới hình thức điểm sách, phê bình văn học trên các tạp chí như Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Tin Sách, Thời Tập, Tư Tưởng, Sáng Tạo, Trình Bày. Một số tác giả đã tập hợp thành chuyên luận:
  • Nguyễn Ngu Í với tập chân dung văn học Sống và viết với... (1966) ghi chép về 12 nhà văn đương thời.
  • Tạ Tỵ với hai công trình nhận định văn học: Mười khuôn mặt văn nghệ (1970) và Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (1972).
  • Huỳnh Phan Anh với Văn chương và kinh nghiệm hư vô (1968), "Nghĩ về văn chương" (Khởi Hành, 1969), Đi tìm tác phẩm văn chương (1972).
  • Cao Huy Khanh với các bài viết: "Sơ thảo 15 năm văn xuôi miền Nam" (Khởi Hành, số 75, 1970), "Mười lăm năm văn xuôi..." (Khởi Hành, số 76, 1970), "Nhà văn miền Nam: Vấn đề khuynh hướng riêng vấn đề trào lưu chung" (Thời Tập, 1974).
  • Các công trình khác đề cập đến văn xuôi và tiểu thuyết: Thanh Lãng (Tiểu thuyết Việt Nam thế hệ 1932 - 1945, 1961), Tràng Thiên (Tiểu thuyết hiện đại, 1963), Nguyễn Văn Trung (Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, 1965; Nhận định), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, 1965), Triều Sơn ("Chuyện phiếm về tiểu thuyết", 1965), Doãn Quốc Sỹ (Văn học và tiểu thuyết, 1973).
  1. Nghiên cứu tại miền Bắc giai đoạn 1954 – 1975 và trước thời kỳ Đổi mới: Các nhà nghiên cứu tiếp cận văn học miền Nam dưới góc độ đấu tranh giai cấp, lập trường tư tưởng và nhiệm vụ chính trị cách mạng. Trần Trọng Đăng Đàn thống kê trên các báo chí miền Bắc (Học tập, Nghiên cứu văn học, Thông báo Triết học, Nghiên cứu lịch sử, Văn học...) có gần 300 bài viết về văn học miền Nam, riêng tạp chí Nghiên cứu Văn học từ 1960 đến 1975 có ít nhất 56 bài. Khuynh hướng chủ đạo là phê phán tính chất chính trị và văn hóa của văn học vùng tạm chiếm qua các công trình: Nguyễn Đức Đàn (1972), Thạch Phương (1977), Đỗ Đức Hiểu (1978), Hà Xuân Trường (1979), Trần Độ (1981), Lữ Phương (1981), Phong Hiền (1984), Chính Nghĩa (1984), Phạm Minh Lăng (1984), Phạm Văn Sỹ (1986), Lê Đình Kỵ (Nhìn lại tư tưởng văn nghệ thời Mỹ ngụy, 1987), Trường Lưu (2001), các công trình của Trần Trọng Đăng Đàn (Nọc độc văn hóa thực dân mới Mỹ, 1983; Lại bàn về nọc độc văn học thực dân mới Mỹ, 1987; Văn hóa - văn nghệ Nam Việt Nam 1954-1975, 1990), tập thể tác giả Trà Linh, Phong Hiền, Trịnh Tuệ Quỳnh, Hoa Lục Bình, Thạch Phương, Trần Hữu Tá (Văn hóa văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ Ngụy, 1977).

  2. Nghiên cứu từ sau năm 1986 đến nay: Quan điểm nghiên cứu có sự chuyển biến theo hướng khoa học và khách quan hơn. Các luận án tiến sĩ tiêu biểu gồm: Nguyễn Phúc (Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước năm 1975, 1995), Trần Hoài Anh (Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 – 1975, 2009), Nguyễn Thị Thu Trang (Con người và những giá trị văn hóa truyền thống trong văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975, 2008), Nguyễn Thị Việt Nga (Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954 – 1975, 2012).

  3. Nghiên cứu tại hải ngoại: Bộ sách Văn học miền Nam tổng quan (7 tập, xuất bản tại Hoa Kỳ từ 1986 đến 1999) của Võ Phiến; các khảo luận của Nguyễn Vy Khanh; bài viết "Văn học miền Nam" của Thụy Khuê.

  4. Các nghiên cứu về từng tác giả tùy bút cụ thể:

  • Vũ Bằng: Tạ Tỵ (1996), Văn Giá (2000, 2005), Tạ Hiếu (2006), Vương Trí Nhàn (2001, 2005), Nguyễn Thị Minh Thái (1999), Chế Diễn Trâm (2008).
  • Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam: Nguyễn Q. Thắng (Bình Nguyên Lộc với hương gió Đồng Nai, 2009), Đoàn Lê Giang (2011), Trần Văn Minh (2013).
  • Nguyễn Ngọc Lan: Trần Thanh Hà với chuyên luận Tam diện tùy bút (2007) phân tích các tập Chứng từ năm năm, Cho cây rừng xanh lá, Nước ta còn đó.
  • Võ Phiến: Nguyễn Hiến Lê (trong hồi ký), Nguyễn Hưng Quốc (Võ Phiến, 1996, dành riêng chương 5 khảo sát tùy bút), Lê Trà My ("Võ Phiến và văn hóa dân tộc"), Ngô Minh Hiền (luận án nghiên cứu tùy bút qua cấu trúc thể loại).
  • Mai Thảo: Doãn Quốc Sỹ (1973), Cao Huy Khanh (1970), Nguyễn Vy Khanh ("Mai Thảo, hoài niệm của người viễn xứ"), Trần Mạnh Thường (Các tác giả văn chương Việt Nam).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy: các nghiên cứu về tùy bút đô thị miền Nam trước đây phần lớn dừng lại ở việc xem xét thể loại trong tương quan với tiểu sử tác giả hoặc phân tích các tác phẩm đơn lẻ. Chưa có công trình nào khảo sát chuyên biệt, có hệ thống về toàn bộ diện mạo, tiến trình vận động, nội dung cảm hứng và đặc điểm thi pháp nghệ thuật của tùy bút đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và quan niệm thể loại

Luận án phân tích khái niệm tùy bút bắt nguồn từ thuật ngữ phương Tây (essai trong tiếng Pháp, essay trong tiếng Anh), đối chiếu với quan niệm của Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển giản yếu ("tùy thời mà biên chép"), định nghĩa của Từ điển Văn học, Văn học Việt Nam thế kỷ XX, cùng các kiến giải của Trần Thanh Hà (Tam diện tùy bút) và Trần Văn Minh (luận án năm 2011).

Trên cơ sở đó, tác giả xác lập định nghĩa: Tùy bút là một thể loại văn xuôi linh hoạt, dung hợp nhiều yếu tố tự sự và trữ tình. Cảm xúc, cảm hứng trong tùy bút được bộc lộ trực tiếp thông qua ngôn ngữ, giọng điệu đặc trưng, lối kết cấu linh hoạt và đa dạng về dung lượng. Tùy bút có các đặc trưng cơ bản:

  • Tính dung hợp: Kết hợp giữa quan sát hiện thực đời sống và chiêm nghiệm chủ quan; chuyển mạch linh hoạt từ sự việc này sang sự việc khác theo dòng cảm xúc.
  • Bộc lộ trực tiếp cảm xúc và cái tôi tác giả: Bản ngã của người viết được thể hiện trực diện, chân thật, biến tùy bút thành không gian biểu đạt của cái tôi cá nhân.
  • Đa dạng về dung lượng: Luận án phân định tương đối thành ba quy mô: đoản thiên tùy bút, trung thiên tùy bút và trường thiên tùy bút.
  • Linh hoạt trong kết cấu: Không phụ thuộc vào cốt truyện nhân vật, mà triển khai theo kết cấu trữ tình – tự sự, kết cấu theo dòng thời gian hoặc kết cấu liên tưởng tâm lý.
  • Ngôn ngữ và giọng điệu mang sắc thái riêng: Ngôn ngữ giàu chất thơ, tính triết luận; giọng điệu đa dạng, đan xen giữa tâm tình, hóm hỉnh, trầm tư và chính luận.

Đối với khái niệm "văn học đô thị miền Nam", luận án xác định đây là một thuật ngữ quy ước khoa học nhằm giới hạn phạm vi không gian địa lý (các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế) và thời gian lịch sử (1954 – 1975 dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa), phân biệt với văn học vùng giải phóng và tránh các định kiến so sánh vùng miền thuần túy.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hoàn toàn phương pháp nghiên cứu định tính thuộc lĩnh vực văn học sử và thi pháp học:

  • Phương pháp chọn mẫu (nghiên cứu trường hợp - case study): Tuyển chọn các tác giả và tác phẩm tiêu biểu mang tính đại diện (Vũ Bằng, Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Ngọc Lan, Sơn Nam...) để phân tích, từ đó khái quát nên các đặc điểm chung của thể loại.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích nội dung tư tưởng, hình thức biểu đạt của từng văn bản tùy bút cụ thể, sau đó tổng hợp các kết quả để rút ra kết luận mang tính quy luật.
  • Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Đặt thể loại tùy bút trong hệ thống chỉnh thể của văn học đô thị miền Nam và tiến trình văn xuôi Việt Nam hiện đại, xem xét mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành tác phẩm (kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu).
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh giữa các chặng đường phát triển (1954 – 1963 so với 1964 – 1975), so sánh giữa các thể loại văn xuôi, và so sánh đối chiếu phong cách nghệ thuật giữa các tác giả tùy bút.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Ngữ liệu của luận án dựa trên các tác phẩm tùy bút xuất bản trước năm 1975 của các tác giả tiêu biểu; hệ thống báo chí, tạp chí xuất bản tại Sài Gòn (Văn, Sáng Tạo, Đối Diện, Khởi Hành, Bách Khoa, Trình Bày, Thời Tập, Phổ Thông...); các tư liệu văn học tại các trung tâm lưu trữ ở Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh; và các ấn phẩm khảo cứu xuất bản ở miền Bắc và hải ngoại.


Nội dung chính theo từng chương

Chương Tên chương trong văn bản Nội dung trọng tâm
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu Khảo sát lịch sử nghiên cứu tại miền Nam, miền Bắc và hải ngoại; đánh giá các khoảng trống học thuật cần giải quyết.
Chương 2 Diện mạo tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975) Bối cảnh lịch sử - xã hội; 3 khuynh hướng văn học chính; khái niệm thể loại; phân kỳ quá trình vận động (1954–1963 và 1964–1975).
Chương 3 Cảm hứng thời đại trong tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975) Khảo sát cảm hứng nhân sinh (nỗi cô đơn, hoài niệm) và cảm hứng lịch sử (chiến tranh, tôn giáo, nhận thức thời cuộc).
Chương 4 Đặc điểm nghệ thuật tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975) Phân tích quy mô dung lượng, mô hình kết cấu, nghệ thuật ngôn từ và các sắc thái giọng điệu tiêu biểu.

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu về văn học miền Nam và thể loại tùy bút từ năm 1954 đến nay. Tác giả chỉ ra rằng tại miền Bắc giai đoạn 1954 – 1975, do nhiệm vụ chính trị và đấu tranh thống nhất, hoạt động nghiên cứu văn học miền Nam chủ yếu mang tính phê phán tư tưởng (với gần 300 bài viết trên báo chí, 56 bài chuyên đề trên tạp chí Văn học). Tại miền Nam, hoạt động nghiên cứu tập trung vào điểm sách, viết chân dung tác giả nhưng thiếu tính hệ thống toàn diện. Ở hải ngoại, các bộ sách như của Võ Phiến dù có quy mô lớn nhưng đậm tính chủ quan của người viết.

Từ sau năm 1986, hướng tiếp cận học thuật có sự thay đổi rõ nét với sự xuất hiện của các luận án tiến sĩ nghiên cứu về văn xuôi, tư tưởng hiện sinh và phê bình văn học đô thị miền Nam. Tuy nhiên, mảng tùy bút vẫn chưa có công trình chuyên biệt nào khảo sát đầy đủ. Luận án xác định nhiệm vụ trọng tâm là làm rõ nội hàm khái niệm, quá trình vận động, cảm hứng chủ đạo và thi pháp nghệ thuật của tùy bút đô thị miền Nam.

Chương 2. Diện mạo tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975)

Chương 2 tập trung phân tích bối cảnh chính trị - xã hội, văn hóa báo chí và quá trình vận động của thể loại:

  • Bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa: Hiệp định Genève 1954 chia cắt đất nước; miền Nam chịu sự can thiệp quân sự của Mỹ và quản lý của chính quyền Sài Gòn. Văn bản dẫn số liệu: cuối năm 1965 số lính Mỹ có mặt tại miền Nam là gần 200.000 người; trong hơn 20 năm, Mỹ sử dụng lúc cao nhất 60% bộ binh, 58% lính thủy đánh bộ, 32% không quân chiến thuật, 50% không quân chiến lược, 15 trong 18 tàu sân bay, 800.000 quân Mỹ, hơn 1 triệu quân chính quyền Sài Gòn, ném hơn 10 triệu tấn bom và chi hơn 300 tỷ đô la. Bối cảnh chiến tranh và biến động xã hội đi kèm với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống báo chí, tạp chí và các nhà xuất bản tư nhân (Thịnh Ký, An Tiêm, Thời Mới, Trình Bày, Đối Diện...), tạo điều kiện trực tiếp cho tùy bút đăng tải và lưu hành.
  • Ba khuynh hướng văn học chính ở đô thị miền Nam:
    1. Khuynh hướng chống Cách mạng: Phục vụ các chính sách chính trị của chính quyền Sài Gòn qua nhiều giai đoạn.
    2. Khuynh hướng kháng chiến, yêu nước, tiến bộ: Đề cập sự áp bức xã hội, nỗi đau chiến tranh, ca ngợi lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh. Tác giả dẫn số liệu tuyển chọn: Trần Hữu Tá tập hợp 60 tác giả văn xuôi; Trần Trọng Đăng Đàn chọn 66 gương mặt văn học yêu nước, tiến bộ công khai (với các tác giả tiêu biểu như Vũ Hạnh, Võ Hồng, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Viễn Phương, Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Trung Thành...).
    3. Khuynh hướng gắn với triết học, tôn giáo: Xuất hiện các sáng tác và khảo luận của Thích Nhất Hạnh, Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Trần Thái Đỉnh, Lê Thành Trị, Lê Tôn Nghiêm, cùng các bản dịch tác phẩm của J. Sartre và A. Camus.
  • Quá trình vận động của tùy bút: Luận án xác định biến cố lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1963 là cột mốc lịch sử chia đôi tiến trình vận động của thể loại:
    • Giai đoạn 1954 – 1963: Giai đoạn nền móng, kiến tạo. Trường hợp điển hình nhất là Bình Nguyên Lộc với tập tùy bút Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc (tập hợp các bài viết từ 1952 – 1962 trên các báo Thời Trân, Sáng Tạo, Nhân Loại, in năm 1966 với 658 bản tại nhà in Thịnh Ký). Tác phẩm phản ánh xu hướng truy tìm cội nguồn, giao lưu văn hóa Bắc – Nam và tái hiện không gian Sài Gòn bình dân. Giai đoạn này cũng ghi nhận Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng và Thư nhà của Võ Phiến.
    • Giai đoạn 1964 – 1975: Giai đoạn hoàn thiện và nở rộ. Tùy bút phát triển phong phú cả về số lượng tác phẩm và phong cách nghệ thuật với sự góp mặt của Vũ Bằng (Thương nhớ mười hai, Miếng lạ miền Nam), Võ Phiến (Ảo ảnh, Phù thế, Đất nước quê hương), Mai Thảo (Căn nhà vùng nước mặn, Tùy bút), Nguyễn Ngọc Lan (Chứng từ năm năm, Cho cây rừng xanh lá), Sơn Nam, Nguyễn Xuân Hoàng, Thanh Tâm Tuyền.

Chương 3. Cảm hứng thời đại trong tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975)

Nội dung chương 3 phân tích hai mạch cảm hứng chủ đạo phản ánh nhận thức tư tưởng của người cầm bút trước hiện thực:

  • Cảm hứng nhân sinh:
    • Nỗi cô đơn của con người thời đại: Tùy bút ghi nhận tâm trạng hoang mang, lạc lõng của con người trước một thực tại đô thị xáo trộn, sự đổ vỡ của các chuẩn mực đạo đức truyền thống và cảm giác bất an dưới tác động của chiến tranh và các trào lưu triết học phương Tây.
    • Nỗi ưu tư, hoài niệm: Cảm xúc hướng về quá khứ, hoài niệm về phong thổ, văn hóa cổ truyền và nguồn cội dân tộc. Điều này thể hiện rõ qua nỗi nhớ Hà Nội và văn hóa đất Bắc trong tùy bút Vũ Bằng, Mai Thảo, hay sự truy tìm dấu tích tiền nhân khai phá đất phương Nam trong văn chương Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam.
  • Cảm hứng lịch sử:
    • Chiến tranh và tôn giáo: Nhận thức trực tiếp về hiện thực tàn khốc của chiến tranh, những mất mát sinh mạng và sự tàn phá văn hóa; việc tìm kiếm điểm tựa tinh thần qua triết lý tôn giáo (Phật giáo, Công giáo) nhằm thức tỉnh lương tri và hòa bình (tiêu biểu ở các bài viết của Nguyễn Ngọc Lan trên tạp chí Đối Diện).
    • Những thiên kiến trong quan điểm, tư tưởng trước thời cuộc: Tùy bút cũng phản chiếu những giới hạn lịch sử, sự bế tắc, hoang mang hoặc những thiên kiến tư tưởng chính trị nhất thời của một bộ phận người viết tại các đô thị miền Nam trước các biến cố thời đại.

Chương 4. Đặc điểm nghệ thuật tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975)

Chương 4 khảo sát các phương diện hình thức và thi pháp thể loại:

  • Dung lượng và kết cấu:
    • Dung lượng: Tùy bút đô thị miền Nam thể hiện sự đa dạng từ đoản thiên (những bài tạp văn, tạp ghi ngắn gọn đăng báo thời sự) đến trung thiên và trường thiên (các tập tùy bút có chủ đề xuyên suốt, kết nối hữu cơ nhiều bài viết như Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc của Bình Nguyên Lộc).
    • Kết cấu: Tác phẩm từ bỏ mô hình cốt truyện tự sự đóng khung, chuyển sang tổ chức linh hoạt theo trật tự thời gian (như chu kỳ mười hai tháng trong năm), kết cấu trữ tình – tự sự hoặc kết cấu theo dòng liên tưởng tâm lý của cái tôi tác giả.
  • Ngôn ngữ và giọng điệu:
    • Ngôn ngữ: Sử dụng ngôn ngữ giàu chất thơ, biểu cảm, đậm chất suy tư và hoài niệm văn hóa; kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương ngữ Nam Bộ dân dã, sống động với ngôn ngữ trau chuốt, cổ điển của văn hóa phương Bắc; vận dụng khẩu ngữ và ngôn ngữ sinh hoạt đời thường đô thị.
    • Giọng điệu: Thể hiện sự đa thanh, kết hợp giữa giọng kể chuyện tâm tình, giãi bày nội tâm sâu lắng; giọng hóm hỉnh, mỉa mai, thế sự; giọng trầm tư triết lý và giọng chính luận xã hội trực diện.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Xác lập quy luật vận động của thể loại: Luận án nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của tùy bút ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975, chỉ ra quy luật vận động nội tại của thể loại qua hai giai đoạn cụ thể (1954 – 1963 và 1964 – 1975) trong mối quan hệ với bối cảnh xã hội và các thể loại văn học khác.
  • Đánh giá hệ thống và khách quan: Luận án đưa ra cái nhìn toàn diện, khoa học về tùy bút đô thị miền Nam trên cả hai mặt thành tựu và hạn chế, vượt qua những định kiến chính trị một chiều trước đây.
  • Làm rõ các đặc trưng thẩm mỹ và thi pháp: Phân tích một cách có hệ thống diện mạo, cảm hứng thời đại (nhân sinh, lịch sử) và đặc điểm nghệ thuật (kết cấu, dung lượng, ngôn ngữ, giọng điệu) thông qua các tác giả, tác phẩm tiêu biểu; khẳng định vị trí và đóng góp của bộ phận tùy bút này đối với văn xuôi Việt Nam hiện đại.
  • Tái đánh giá công bằng các trường hợp cụ thể: Luận án góp phần thẩm định khách quan hơn về sự nghiệp tùy bút của các tác giả từng có nhiều ý kiến trái chiều như Vũ Bằng, Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Ngọc Lan.

Kiến nghị và ứng dụng thực tiễn

  • Đề xuất mở rộng hướng nghiên cứu văn học miền Nam 1954 – 1975 từ góc độ khoa học văn học thuần túy, xem đây là đối tượng cần được đối thoại học thuật công bằng.
  • Ứng dụng trực tiếp kết quả nghiên cứu vào hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình và học tập về văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học và viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được văn bản đề cập

  • Trở ngại về nguồn tư liệu văn bản: Sau năm 1975, tài liệu văn học miền Nam bị thất tán nghiêm trọng, không được bảo quản đầy đủ; nhiều ấn phẩm thuộc quyền sở hữu của các nhà sưu tập tư nhân trong và ngoài nước, gây khó khăn cho việc tiếp cận trực tiếp văn bản gốc.
  • Tính phức tạp của tài liệu hải ngoại và Internet: Các nguồn tư liệu xuất bản tại hải ngoại hoặc lưu trữ trên mạng Internet phức tạp, khó giám định văn bản và thường bị chi phối bởi động cơ chính trị, phi học thuật.
  • Phạm vi khảo sát mang tính chọn mẫu: Do không thể tiếp cận toàn bộ di sản tùy bút đồ sộ trong thực tế, luận án chỉ giới hạn ở phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) với một số tác giả tiêu biểu, chưa thể xây dựng bảng thống kê toàn diện về toàn bộ tác giả, tác phẩm tùy bút xuất hiện tại các đô thị miền Nam thời kỳ này.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục sưu tầm, phục chế và giám định các văn bản tùy bút đang bị phân tán tại các kho lưu trữ và bộ sưu tập tư nhân.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu đến các tác giả tùy bút chưa được khảo sát sâu trong luận án như Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Xuân Hoàng, N. Dung, Phan Du, Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng, Dương Nghiễm Mậu, Lãng Nhân, Doãn Quốc Sỹ, Kiệt Tấn, Nguyễn Sĩ Tế, Nguyễn Đình Toàn, Hồ Hữu Tường, Huỳnh Hữu Ủy, Thế Uyên, Đỗ Thúc Vịnh, Kinh Dương Vương, Bửu Ý.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành phục vụ cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn và Văn học Việt Nam: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận thể loại, cách xử lý nguồn tư liệu lịch sử văn học đặc thù và khung lý thuyết về thể loại tùy bút.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu lịch sử văn học: Cung cấp tư liệu chi tiết về tiến trình văn học miền Nam 1954 – 1975, đặc biệt là hệ thống báo chí, nhà xuất bản và sinh hoạt học thuật tại Sài Gòn, Huế thời kỳ này.
  • Người làm công tác nghiên cứu văn hóa đô thị: Cung cấp cái nhìn cụ thể về đời sống tinh thần, phong tục, ẩm thực và tâm lý xã hội của cư dân đô thị miền Nam trong hơn hai thập niên chiến tranh.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo chuyên sâu:
    • Chương 1 với phần điểm cứu lịch sử tiếp nhận văn học miền Nam từ cả hai miền Nam – Bắc và hải ngoại.
    • Chương 2 về sự phân kỳ lịch sử và khảo cứu trường hợp tùy bút Bình Nguyên Lộc.
    • Chương 4 về thi pháp kết cấu và sự vận dụng ngôn ngữ, giọng điệu trong tùy bút.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "văn học đô thị miền Nam" được luận án xác định và sử dụng theo nguyên tắc nào?
Luận án xác định "văn học đô thị miền Nam" là một thuật ngữ quy ước khoa học nhằm giới hạn phạm vi không gian địa lý (tập trung tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế) và thời gian lịch sử (1954 – 1975 dưới thể chế Việt Nam Cộng hòa). Khái niệm này không mang hàm ý so sánh thứ bậc (cao hay thấp, tiến bộ hay lạc hậu) hoặc đối lập vùng miền thuần túy với nông thôn, mà dùng để khoanh vùng đối tượng nghiên cứu có môi trường xuất bản, báo chí và tầng lớp độc giả tiếp nhận đặc thù.

2. Quá trình vận động của tùy bút ở đô thị miền Nam được phân chia thành mấy giai đoạn và dựa vào mốc lịch sử nào?
Tiến trình tùy bút đô thị miền Nam được phân chia thành hai giai đoạn dựa trên mốc lịch sử năm 1963 (sự kiện chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ):

  • Giai đoạn 1954 – 1963: Giai đoạn nền móng, kiến tạo, gắn liền với dấu ấn nổi bật của Bình Nguyên Lộc cùng những bước khởi đầu của Vũ Bằng, Võ Phiến.
  • Giai đoạn 1964 – 1975: Giai đoạn hoàn thiện và nở rộ thành tựu với sự tham gia của hàng loạt tác giả như Vũ Bằng, Võ Phiến, Mai Thảo, Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Xuân Hoàng, Thanh Tâm Tuyền.

3. Những tác giả và tác phẩm tùy bút nào là đối tượng khảo sát trọng tâm của luận án?
Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu được luận án tập trung khảo sát gồm: Vũ Bằng (Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Thương nhớ mười hai), Bình Nguyên Lộc (Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc), Sơn Nam (Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam), Võ Phiến / Tràng Thiên (Quê hương tôi, Tạp văn Tràng Thiên, Thư nhà, Ảo ảnh, Phù thế, Đất nước quê hương...), Mai Thảo (Căn nhà vùng nước mặn, Tùy bút), Nguyễn Ngọc Lan (Chứng từ năm năm, Đường hay pháo đài, Cho cây rừng xanh lá, Nước ta còn đó), Thanh Tâm Tuyền (Tạp ghi), Nguyễn Xuân Hoàng (Ý nghĩ trên cỏ).

4. Ba khuynh hướng chính của văn học ở đô thị miền Nam (1954 – 1975) được luận án chỉ ra là những khuynh hướng nào?
Luận án phân loại văn học đô thị miền Nam thành ba khuynh hướng nổi bật: (1) Khuynh hướng chống Cách mạng phục vụ chính quyền Sài Gòn; (2) Khuynh hướng kháng chiến, yêu nước, tiến bộ phản ánh hiện thực bất công và tinh thần dân tộc; (3) Khuynh hướng gắn với triết học, tôn giáo thể hiện thế giới nội tâm và tìm kiếm hướng giải thoát qua tư tưởng Phật giáo, Công giáo hoặc triết học phương Tây.

5. Khó khăn lớn nhất về mặt văn bản học mà tác giả luận án gặp phải là gì?
Trở ngại lớn nhất là sự thất tán nghiêm trọng của nguồn tài liệu sau năm 1975. Rất nhiều tác phẩm không được bảo quản đầy đủ, phân tán rải rác trong các kho lưu trữ tại Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh và thuộc sở hữu của các nhà sưu tập tư nhân trong và ngoài nước; nguồn tư liệu qua mạng Internet thì phức tạp, thiếu tính quy chuẩn văn bản.


Kết luận

Luận án "Đặc điểm tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975)" của tác giả Bùi Tiến Sỹ là một công trình chuyên khảo có hệ thống về thể loại tùy bút trong không gian văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975. Thông qua phương pháp nghiên cứu trường hợp và phân tích thi pháp học, luận án đã phục dựng diện mạo, xác lập quy luật vận động hai giai đoạn và làm sáng tỏ các mạch cảm hứng nhân sinh, lịch sử cùng đặc điểm nghệ thuật kết cấu, ngôn từ của thể loại. Công trình đã lấp đầy một khoảng trống học thuật trong nghiên cứu văn xuôi Việt Nam hiện đại, đồng thời cung cấp cách tiếp cận khách quan, khoa học đối với di sản văn học miền Nam trước năm 1975.