Nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn giao lá rộng và lá kim tại VQG Bidoup - Núi Bà

Luận văn nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn giao lá rộng và lá kim tại VQG Bidoup Núi Bà, phân tích tổ thành loài, tái sinh và đề xuất giải pháp bảo tồn.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH LỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. TRÊN THẾ GIỚI

1.1.1. Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng

1.1.2. Về mô tả hình thái cấu trúc rừng

1.1.3. Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng

1.1.4. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây

1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng

1.3. Nghiên cứu cấu trúc rừng

1.4. Nghiên cứu tái sinh rừng

1.5. Các kiểu rừng ở VQG Bidoup – Núi Bà

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.2. PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu:

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.2.3. Giới hạn đề tài

2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm thảm mục rừng và đất rừng tại khu vực nghiên cứu

2.3.2. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc sinh thái

2.3.3. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc hình thái

2.3.4. Đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên tại khu vực nghiên cứu

2.3.5. Một số đề xuất giải pháp trong công tác quản lý và bảo vệ kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng lá kim tại VQG Bidoup – Núi Bà

2.4. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

2.4.1. Quan điểm phương pháp luận nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

3.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên

3.1.2. Vị trí địa lý, địa hình

3.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI

3.2.1. Dân sô, dân tộc, lao động

3.2.2. Hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu nhập và tỷ lệ đói nghèo

3.3. CÁC KIỂU THẢM THỰC VẬT RỪNG

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM ĐẤT RỪNG TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

4.2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC SINH THÁI

4.2.1. Chỉ số quan trọng (IV% ) và cấu trúc tổ thành loài

4.2.2. Đa dạng sinh học

4.2.3. Mức độ thường gặp

4.2.4. Phân bố của các loài thực vật tại các đai cao

4.3. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC HÌNH THÁI

4.3.1. Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/ D1,3)

4.3.2. Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao vút ngọn (N/ Hvn)

4.3.3. Cấu trúc mật độ tầng cây cao

4.3.4. Độ tàn che của rừng

4.4. ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

4.4.1. Tổ thành loài cây tái sinh

4.4.2. Đặc điểm cấu trúc mật độ, chất lượng và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng

4.4.3. Phân bố cây tái sinh theo chiều cao

4.4.4. Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang

4.4.5. Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên

4.5. ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BỀN VỮNG KIỂU RỪNG KÍN THƯỜNG XANH HỖN GIAO CÂY LÁ RỘNG VÀ LÁ KIM TẠI VQG BIDOUP – NÚI BÀ

4.5.1. Cơ sở của bảo tồn và phục hồi tài nguyên rừng

4.5.2. Giải pháp bảo vệ và phục hồi kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng và lá kim tại VQG Bidoup – Núi Bà

5. CHƯƠNG V: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

5.1. Đặc điểm tầng đất

5.2. Đặc điểm cấu trúc sinh thái

5.3. Đặc điểm cấu trúc hình thái

5.4. Đặc điểm tái sinh tự nhiên

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

appendix.1. TIẾNG NƯỚC NGOÀI

Tóm tắt

I. Tổng quan đặc điểm rừng hỗn giao VQG Bidoup Núi Bà

Vườn Quốc gia (VQG) Bidoup - Núi Bà là một trong những trung tâm đa dạng sinh học quan trọng bậc nhất Việt Nam. Nơi đây sở hữu nhiều kiểu rừng Bidoup độc đáo, trong đó nổi bật là kiểu rừng hỗn giao lá rộng lá kim. Kiểu rừng này chiếm diện tích 16.258 ha, tương đương 26,7% tổng diện tích toàn VQG, phân bố chủ yếu ở độ cao trên 1.000m. Đây là một hệ sinh thái chuyển tiếp đặc biệt, thể hiện sự giao thoa giữa hệ thực vật phương Bắc và phương Nam. Nghiên cứu đặc điểm của kiểu rừng này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn cung cấp cơ sở vững chắc cho công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại đây. Theo luận văn của Phạm Quang Hải (2013), kiểu rừng này có cấu trúc rất phức tạp và đa dạng, là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật quý hiếm. Hệ sinh thái VQG Bidoup Núi Bà trong kiểu rừng này đóng vai trò cốt lõi của Khu dự trữ sinh quyển Langbiang, góp phần điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất và duy trì sự cân bằng sinh thái cho toàn bộ cao nguyên Lâm Viên. Sự tồn tại của các loài cây lá kim như Thông 5 lá Đà Lạt (Pinus dalatensis) và Pơ mu (Fokienia hodginsii) xen kẽ với các loài cây lá rộng thường xanh tạo nên một cảnh quan rừng nguyên sinh vô cùng giá trị, cần được ưu tiên bảo vệ và nghiên cứu sâu hơn.

1.1. Vị trí và tầm quan trọng của kiểu rừng Bidoup

Kiểu rừng hỗn giao VQG Bidoup - Núi Bà phân bố tập trung trên các sườn núi dốc và các dãy núi cao như Gia Rích, Bidoup, Chư Yên Du và Cổng Trời. Vị trí này thuộc vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Langbiang, được UNESCO công nhận. Tầm quan trọng của kiểu rừng này thể hiện ở chức năng phòng hộ đầu nguồn cho các hệ thống sông lớn như sông Đa Nhim và sông Krông Nô. Thảm thực vật dày đặc giúp giữ nước, hạn chế xói mòn và điều hòa khí hậu cho khu vực. Đây cũng là hành lang đa dạng sinh học, kết nối các hệ sinh thái khác nhau, tạo điều kiện cho sự di cư và phát triển của nhiều loài.

1.2. Khái niệm rừng hỗn giao lá rộng lá kim là gì

Rừng hỗn giao lá rộng lá kim là một quần xã thực vật mà trong đó các loài cây gỗ thuộc nhóm lá rộng (Angiospermae) và nhóm lá kim (Gymnospermae) cùng sinh trưởng và phát triển. Tại VQG Bidoup - Núi Bà, kiểu rừng này thuộc loại rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới. Đặc trưng của nó là sự hiện diện của các loài cây lá kim quý hiếm như Thông 5 lá Đà Lạt, Pơ mu, Bách xanh (Calocedrus macrolepis) cùng với các loài cây lá rộng ưu thế thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae) và họ Chè (Theaceae). Sự kết hợp này tạo ra một cấu trúc tầng tán rừng phức tạp và một môi trường sống đa dạng cho các sinh vật khác.

1.3. Vai trò trong khu dự trữ sinh quyển Langbiang

Trong cấu trúc tổng thể của Khu dự trữ sinh quyển Langbiang, kiểu rừng hỗn giao đóng vai trò là một trong những hệ sinh thái hạt nhân quan trọng nhất. Nó không chỉ là nơi lưu giữ nguồn gen của nhiều các loài cây đặc hữu Bidoup mà còn duy trì các quy trình sinh thái thiết yếu. Giá trị sinh thái rừng hỗn giao thể hiện qua khả năng tích trữ carbon, cung cấp oxy, và là nơi cư ngụ cho hệ động vật Bidoup phong phú, bao gồm nhiều loài chim và thú quý hiếm. Việc bảo vệ nguyên vẹn kiểu rừng này là nhiệm vụ cốt lõi để duy trì danh hiệu và giá trị của khu dự trữ sinh quyển thế giới.

II. Những thách thức trong công tác bảo tồn rừng Bidoup

Mặc dù sở hữu giá trị to lớn, hệ sinh thái VQG Bidoup Núi Bà đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Các hoạt động của con người như khai thác lâm sản trái phép, canh tác nông nghiệp lấn chiếm đất rừng, và phát triển du lịch thiếu kiểm soát đang gây áp lực lên tài nguyên. Những tác động này làm thay đổi cấu trúc rừng, phá vỡ các mối quan hệ sinh thái và làm suy giảm môi trường sống của nhiều loài. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng là một mối đe dọa tiềm tàng. Sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa có thể ảnh hưởng đến sự phân bố và khả năng tái sinh của các loài cây, đặc biệt là các loài cây lá kim vốn nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường. Nghiên cứu của Phạm Quang Hải (2013) cũng chỉ ra rằng cấu trúc rừng đã có dấu hiệu bị tác động, thể hiện qua sự phân bố không đều của cây tái sinh ở một số khu vực. Việc hiểu rõ những thách thức này là bước đầu tiên để xây dựng các chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững cho rừng nguyên sinh cao nguyên Lâm Viên và các giá trị mà nó mang lại.

2.1. Tác động từ hoạt động dân sinh và kinh tế

Áp lực từ các hoạt động dân sinh và kinh tế là một trong những thách thức lớn nhất. Việc mở rộng diện tích canh tác, đặc biệt là cà phê và các loại rau màu, đã dẫn đến tình trạng mất rừng và phân mảnh môi trường sống. Khai thác gỗ trái phép, dù đã giảm, vẫn còn tồn tại, nhắm vào các loài có giá trị cao như Pơ mu và Thông đỏ. Hơn nữa, sự phát triển cơ sở hạ tầng và du lịch nếu không được quy hoạch cẩn thận có thể gây ô nhiễm và xáo trộn hệ sinh thái mong manh của thảm thực vật á nhiệt đới.

2.2. Nguy cơ suy giảm các loài cây đặc hữu Bidoup

Các loài cây đặc hữu Bidoup và các loài quý hiếm như Thông 5 lá Đà Lạt, Bách xanh, Thông hai lá dẹt đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng. Nguyên nhân không chỉ do khai thác mà còn do khả năng tái sinh tự nhiên kém trong điều kiện môi trường thay đổi. Các loài này thường yêu cầu điều kiện tiểu khí hậu và thổ nhưỡng rất khắt khe để nảy mầm và phát triển. Bất kỳ sự thay đổi nào về độ tàn che, độ ẩm đất hay sự cạnh tranh từ các loài xâm lấn đều có thể cản trở quá trình tái sinh, đe dọa sự tồn vong của chúng trong tương lai.

III. Phương pháp phân tích cấu trúc sinh thái rừng Bidoup

Để hiểu rõ bản chất của rừng hỗn giao VQG Bidoup - Núi Bà, các nhà khoa học đã áp dụng nhiều phương pháp phân tích cấu trúc sinh thái hiện đại. Trọng tâm của các nghiên cứu, như trong luận văn của Phạm Quang Hải (2013), là việc thiết lập các ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình để thu thập dữ liệu một cách hệ thống. Tại đây, các chỉ số về cấu trúc sinh thái được đo đếm và phân tích chi tiết. Các chỉ số này bao gồm thành phần loài, mật độ, chỉ số quan trọng (IV%), và các chỉ số đa dạng sinh học như Simpson và Shannon-Wiener. Phương pháp này cho phép lượng hóa mức độ phong phú và vai trò của từng loài trong quần xã. Việc phân tích hệ thực vật Bidoup theo các đai độ cao khác nhau cũng được tiến hành để xác định quy luật phân bố của các loài. Kết quả từ các phân tích này không chỉ mô tả được hiện trạng của hệ sinh thái mà còn giúp dự báo xu hướng phát triển và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp, góp phần vào nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học Bidoup một cách khoa học và hiệu quả.

3.1. Đánh giá tổ thành loài và chỉ số quan trọng IV

Tổ thành loài là chỉ số cơ bản nhất, phản ánh sự đa dạng của các loài cây gỗ có mặt trong rừng. Để xác định vai trò và mức độ ưu thế của mỗi loài, các nhà nghiên cứu sử dụng Chỉ số Giá trị Quan trọng (Importance Value Index - IV%). Chỉ số này được tính toán dựa trên ba yếu tố: mật độ tương đối, tần suất xuất hiện tương đối và độ ưu thế tương đối (thông qua tiết diện ngang). Các loài có chỉ số IV% cao được xem là loài ưu thế, đóng vai trò then chốt trong việc định hình cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái.

3.2. Phân tích hệ thực vật Bidoup theo các đai độ cao

Hệ thực vật Bidoup thể hiện sự thay đổi rõ rệt theo độ cao, một đặc trưng khí hậu Bidoup điển hình. Nghiên cứu phân chia khu vực thành các đai độ cao khác nhau (ví dụ: 1.400-1.600m, 1.600-1.800m, >1.800m) để khảo sát sự khác biệt về thành phần loài và cấu trúc. Phân tích này cho thấy một số loài cây lá rộng chiếm ưu thế ở đai thấp, trong khi các loài cây lá kim như Thông 5 lá Đà Lạt lại phổ biến hơn ở các đai cao hơn. Điều này phản ánh sự thích nghi của từng loài với điều kiện vi khí hậu và thổ nhưỡng đặc thù, cung cấp thông tin quý giá cho việc khoanh vùng bảo tồn.

IV. Cách xác định cấu trúc hình thái rừng hỗn giao

Cấu trúc hình thái mô tả sự sắp xếp của cây rừng trong không gian ba chiều, là một yếu tố quan trọng quyết định đến hoạt động của hệ sinh thái. Để xác định đặc điểm này trong rừng hỗn giao VQG Bidoup - Núi Bà, các nhà khoa học tập trung vào hai khía cạnh chính: cấu trúc thẳng đứng và cấu trúc nằm ngang. Cấu trúc thẳng đứng được nghiên cứu thông qua phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn) và cấu trúc tầng tán rừng. Cấu trúc nằm ngang được thể hiện qua quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1.3) và mật độ cây trên một đơn vị diện tích. Theo nghiên cứu của Phạm Quang Hải (2013), phân bố đường kính của kiểu rừng này có dạng đường cong giảm, điển hình cho rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi. Điều này cho thấy rừng có khả năng tự tái sinh và duy trì cấu trúc ổn định. Việc mô hình hóa các quy luật phân bố này giúp các nhà lâm học hiểu rõ hơn về động thái phát triển của rừng, từ đó đưa ra các biện pháp tác động lâm sinh phù hợp nhằm thúc đẩy tái sinh và nâng cao giá trị sinh thái rừng hỗn giao.

4.1. Quy luật phân bố số cây theo đường kính và chiều cao

Phân bố số cây theo đường kính ngang ngực (N/D1.3) và chiều cao vút ngọn (N/Hvn) là những quy luật cấu trúc cơ bản. Trong rừng hỗn giao Bidoup, phân bố N/D1.3 thường tuân theo dạng hàm mũ giảm (dạng chữ J ngược), nghĩa là số lượng cây ở các cấp đường kính nhỏ rất lớn và giảm dần khi đường kính tăng lên. Điều này cho thấy một quần thể rừng khỏe mạnh với lớp cây kế cận dồi dào. Tương tự, phân bố N/Hvn giúp xác định các tầng cây và sự tập trung của tán lá, phản ánh mức độ cạnh tranh ánh sáng trong quần xã.

4.2. Đặc điểm cấu trúc tầng tán rừng và độ tàn che

Cấu trúc tầng tán rừng của rừng hỗn giao tại Bidoup rất phức tạp, thường bao gồm nhiều tầng không rõ rệt. Tuy nhiên, có thể phân chia thành các tầng chính: tầng vượt tán (với các cây gỗ lớn như Pơ mu), tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán và tầng cây bụi, thảm tươi. Độ tàn che của rừng, được đo bằng tỷ lệ diện tích đất được tán cây che phủ, là một chỉ số quan trọng. Độ tàn che cao (thường trên 0,7-0,8) giúp duy trì độ ẩm, hạn chế cỏ dại và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ ưa bóng.

V. Kết quả nghiên cứu đa dạng sinh học VQG Bidoup nổi bật

Các nghiên cứu khoa học tại VQG Bidoup - Núi Bà đã mang lại những kết quả ấn tượng, khẳng định vị thế là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam. Kiểu rừng hỗn giao lá rộng lá kim là nơi ghi nhận sự phong phú bậc nhất về thành phần loài. Theo thống kê, khu vực này là nơi sinh sống của hàng trăm loài cây gỗ, trong đó có nhiều loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và IUCN. Sự đa dạng không chỉ thể hiện ở số lượng loài mà còn ở cấu trúc di truyền và các mối quan hệ sinh thái phức tạp. Kết quả nghiên cứu cho thấy các họ thực vật chiếm ưu thế bao gồm họ Dẻ (Fagaceae), Long não (Lauraceae), và các loài cây lá kim bản địa. Đặc biệt, giá trị sinh thái rừng hỗn giao được nâng cao nhờ sự hiện diện của các quần thể lớn các loài cây đặc hữu Bidoup, biến nơi đây thành một phòng thí nghiệm tự nhiên khổng lồ cho các nhà khoa học. Quá trình tái sinh tự nhiên dưới tán rừng nguyên sinh cũng diễn ra khá tốt, hứa hẹn khả năng phục hồi và duy trì tính bền vững của hệ sinh thái này.

5.1. Các loài cây ưu thế Pơ mu và Thông 5 lá Đà Lạt

Trong quần xã rừng hỗn giao, một số loài cây nổi lên với vai trò ưu thế vượt trội. Pơ mu (Fokienia hodginsii) và Thông 5 lá Đà Lạt (Pinus dalatensis) là hai trong số đó. Đây là những loài cây gỗ lớn, có giá trị kinh tế và bảo tồn cao, đồng thời là loài chỉ thị cho hệ sinh thái rừng núi cao á nhiệt đới. Sự tồn tại của chúng không chỉ tạo nên tầng vượt tán, định hình cấu trúc không gian của rừng mà còn tạo ra các điều kiện vi môi trường đặc thù, ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài khác. Việc bảo vệ các quần thể này là ưu tiên hàng đầu trong công tác bảo tồn tại VQG.

5.2. Đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng nguyên sinh

Tái sinh tự nhiên là chìa khóa cho sự bền vững của rừng. Nghiên cứu tại các ô tiêu chuẩn cho thấy mật độ cây tái sinh dưới tán rừng nguyên sinh cao nguyên Lâm Viên khá cao, với sự tham gia của nhiều loài cây gỗ có giá trị. Tuy nhiên, chất lượng và sự phân bố của cây tái sinh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi độ tàn che của rừng mẹ và mức độ phát triển của thảm thực vật che phủ mặt đất. Những nơi có độ tàn che vừa phải (khoảng 0,6-0,7) và lớp thảm mục không quá dày thường có tỷ lệ cây tái sinh triển vọng cao nhất. Điều này gợi ý các biện pháp lâm sinh hợp lý để xúc tiến tái sinh.

VI. Hướng đi bền vững cho bảo tồn rừng Bidoup Núi Bà

Dựa trên những hiểu biết sâu sắc về đặc điểm cấu trúc và động thái của rừng hỗn giao VQG Bidoup - Núi Bà, việc xây dựng một chiến lược bảo tồn bền vững là vô cùng cấp thiết. Hướng đi này cần kết hợp hài hòa giữa bảo vệ nghiêm ngặt và phát triển sinh kế cho cộng đồng địa phương. Các giải pháp phải dựa trên cơ sở khoa học, tập trung vào việc duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái. Điều này bao gồm việc tăng cường tuần tra, ngăn chặn khai thác trái phép, và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để hỗ trợ quá trình tái sinh tự nhiên, đặc biệt là đối với các loài cây đặc hữu Bidoup. Song song đó, việc phát triển các mô hình du lịch sinh thái có trách nhiệm không chỉ tạo ra nguồn thu nhập, nâng cao nhận thức của người dân mà còn giảm áp lực lên tài nguyên rừng. Tương lai của đa dạng sinh học Bidoup phụ thuộc vào khả năng thực thi hiệu quả các giải pháp tổng hợp này, biến VQG thành một hình mẫu về bảo tồn và phát triển bền vững ở Việt Nam và khu vực.

6.1. Giải pháp quản lý và phục hồi hệ sinh thái rừng

Các giải pháp quản lý cần tập trung vào việc giám sát diễn biến tài nguyên rừng thông qua công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS). Đối với những khu vực bị suy thoái, cần triển khai các chương trình phục hồi hệ sinh thái bằng cách trồng bổ sung các loài cây bản địa có giá trị cao như Pơ mu, Thông 5 lá Đà Lạt. Quan trọng hơn, cần xây dựng các quy chế phối hợp chặt chẽ với cộng đồng địa phương, giao khoán bảo vệ rừng và chia sẻ lợi ích, biến người dân thành những người bảo vệ tích cực cho chính ngôi nhà của mình.

6.2. Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững

Với cảnh quan độc đáo của rừng nguyên sinh và sự đa dạng của hệ thực vật Bidoup, VQG có tiềm năng to lớn để phát triển du lịch sinh thái. Các hoạt động như đi bộ xuyên rừng, quan sát chim, khám phá văn hóa bản địa cần được tổ chức một cách chuyên nghiệp và có kiểm soát. Nguồn thu từ du lịch cần được tái đầu tư cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và hỗ trợ cộng đồng. Phát triển du lịch sinh thái bền vững không chỉ là một giải pháp kinh tế mà còn là một công cụ giáo dục môi trường hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị của VQG Bidoup - Núi Bà.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nghiên cứu cấu trúc rừng được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến từ những năm đầu của thế kỷ 20. Nhìn chung, các tác giả đều quan tâm đến việc xây dựng một mô hình rừng chuẩn, phục vụ công tác kinh doanh rừng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu về kinh tế, xã hội và sinh thái. Những nghiên cứu về cấu trúc bước đầu là định tính, mô tả, nay đã chuyển sang nghiên cứu định lượng, chính xác với sự ứng dụng của toán thống kê và tin học. TRÊN THẾ GIỚI Phục vụ kinh doanh rừng hợp lý, có hiệu quả, đạt được yêu cầu về kinh tế lẫn sinh thái môi trường, việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc cho từng kiểu rừng đã được tiến hành hàng trăm năm nay.

Phương pháp nghiên cứu từ mô tả định tính chuyển dần sang phương pháp định lượng dưới dạng các mô hình, nhằm khái quát hóa được các quy luật tồn tại bên trong các hệ sinh thái và các mối quan hệ qua lại giữa các thành phần bên trong và bên ngoài, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu sau: 1. Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống. Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp. Trong một thời gian dài, vấn đề duy trì và điều tiết cấu trúc rừng đã được bàn luận và có rất nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là việc đề xuất các tác động xử lý đối với rừng tự nhiên nhiệt đới.

Nhiều phương thức lâm sinh ra đời và được thử nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới như phương thức chặt cải thiện tái sinh (RIF, 1927), phương thức rừng đều tuổi của Malaysia (MUS, 1945), T. (1964) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Theo tác giả, các phương thức xử lý đều có hai mục tiêu rõ rệt: "Mục tiêu thứ nhất là nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không gian thích hợp cho các cây còn lại sinh trưởng. Mục tiêu thứ hai là tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo hoặc giải phóng lớp cây tái sinh sẵn có đang ở trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong khai thác hoặc trong chăm sóc nuôi dưỡng rừng sau đó".

Từ đó, tác giả này đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa. Catinot (1965) nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến. Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học. Nghiên cứu tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục, Evans, J.

(1984) xác định, có tới 70-100 loài cây gỗ trên 1ha, nhưng hiếm có loài nào chiếm hơn 10% tổ thành loài. Về mô tả hình thái cấu trúc rừng Rừng mưa nhiệt đới đã được nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu, như: Catinot R. Các tác giả đã biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng những phẫu diện đồ ngang và đứng. Các nhân tố cấu trúc được mô tả theo các khái niệm: dạng sống, tầng phiến.

Rollet (1971) đã đưa ra hàng loạt phẫu đồ mô tả cấu trúc hình thái rừng mưa, như tương quan giữa chiều cao với đường kính D1.3, tương 5 quan giữa đường kính tán với đường kính D1.3 và biểu diễn chúng bằng các hàm hồi quy.W (1952) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái. Theo tác giả này, một đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ. Rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có ba tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây.

"Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây". Nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả có ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi. Richards (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6-12m, 12-18m, 18-24m, 24-30m, 30*36m và 36-42m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao.(1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto - Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả. Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới.

Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng Khi chuyển đổi từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng, nhiều tác giả đã sử dụng các công thức và hàm toán học để mô hình hoá cấu trúc rừng, xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc của rừng. Raunkiaer (1934) đã đưa ra công thức xác định phổ dạng sống chuẩn cho hàng nghìn loài cây khác nhau. Theo đó, công thức phổ dạng sống chuẩn được xác định theo tỷ lệ phần trăm giữa số lượng cá thể của từng dạng sống so với tổng số cá thể trong một khu vực. Để biểu thị tính đa dạng về loài, một số tác giả đã xây dựng các công thức xác định chỉ số đa dạng loài như Simpson (1949), Margalef (1958), 6 Menhinik (1964),.

và để đánh giá mức độ phân tán hay tập trung của các loài, đặc biệt là lớp thảm tươi, Drude đã đưa ra khái niệm độ nhiều và cách xác định. Đây là những nghiên cứu mang tính định lượng nhưng xuất phát từ những cơ sở sinh thái nên được đề tài lựa chọn và vận dụng. Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần. (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất, Balley (1973) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông,.

Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không được vận dụng trong đề tài. Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo. Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng. Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973).

Nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này, khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách khỏi hoàn cảnh sinh thái của nó, từ đó hình thành xu hướng phân loại rừng theo ngoại mạo sinh thái. Về phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3) Phân bố số cây theo cỡ đường kính là quy luật kết cấu cơ bản của lâm phần và được các nhà lâm học, điều tra rừng quan tâm. Meyer (1934) đã mô tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer. Tiếp đó, nhiều tác giả dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình của đường cong phân bố.

Balley (1973) sử dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba. M và Patatscase (1964), Bill và Kem K.A (1964) đã tiếp cận phân bố 7 này bằng phương trình logarit chính thái.N sử dụng phân bố Gamma biểu thị phân bố số cây theo đường kính lâm phần Thông ôn đới. Đặc biệt, để tăng tính mềm dẻo, một số tác giả hay dùng các hàm khác, như Loetsch (1973) dùng hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm, J.Z Docouto (1992) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo- Brazin đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N/D. Nhiều tác giả khác dùng hàm Hyperbol, hàm Poisson, hàm Logarit chuẩn, họ Pearson, hàm Weibull.

Về phân bố số cây theo chiều cao (N/H) Phần lớn các tác giả khi nghiên cứu cấu trúc lâm phần theo chiều thẳng đứng đã dựa vào phân bố số cây theo chiều cao. Phương pháp kinh điển nghiên cứu cấu trúc đứng rừng tự nhiên là vẽ các phẫu diện đồ đứng với các kích thước khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Các phẫu đồ đã mang lại hình ảnh khái quát về cấu trúc tầng tán, phân bố số cây theo chiều thẳng đứng. Từ đó rút ra các nhận xét và đề xuất ứng dụng thực tế.

Phương pháp này được nhiều nhà nghiên cứu rừng nhiệt đới áp dụng mà điển hình là các công trình của các tác giả P. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây Qua nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với mỗi cỡ đường kính cho trước luôn tăng theo tuổi, đó là kết quả tự nhiên của sự sinh trưởng. Trong mỗi cỡ kính xác định, ở các tuổi khác nhau, cây rừng thuộc cấp sinh trưởng khác nhau, cấp sinh trưởng giảm khi tuổi lâm phần tăng lên, dẫn đến tỷ lệ H/D tăng theo tuổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ