Đặc Điểm Quặng Hóa Đồng Trong Các Thành Tạo Trầm Tích Vùng Biển Động - Quý Sơn

Nghiên cứu đặc điểm quặng hóa đồng vùng Biển Động - Quý Sơn: thành tạo trầm tích, phân bố, thành phần vật chất, yếu tố khống chế quặng và dấu hiệu tìm kiếm.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

168
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÙNG BIỂN ĐỘNG - QUÝ SƠN

1.1. Vị trí vùng nghiên cứu trên bình đồ cấu trúc khu vực

1.2. Lịch sử nghiên cứu địa chất và khoáng sản Cu

1.3. Cấu trúc địa chất vùng Biển Động-Quý Sơn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

2.1. Đặc điểm địa hóa, khoáng vật học của đồng (Cu)

2.2. Phân loại các kiểu mỏ đồng trên thế giới và Việt Nam

2.3. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án

2.4. Một số khái niệm được sử dụng trong luận án

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT QUẶNG HÓA ĐỒNG VÙNG BIỂN ĐỘNG-QUÝ SƠN

3.1. Đặc điểm các thành tạo địa chất vây quanh quặng đồng

3.2. Đặc điểm phân bố và hình thái cấu trúc các thân quặng

3.3. Đặc điểm các đá biến đổi nhiệt dịch gần quặng

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN VẬT CHẤT QUẶNG ĐỒNG VÙNG BIỂN ĐỘNG-QUÝ SƠN

4.1. Đặc điểm thành phần khoáng vật

4.2. Đặc điểm cấu tạo, kiến trúc quặng

4.3. Đặc điểm thành phần hoá học

4.4. Nguồn gốc quặng hóa

5. CHƯƠNG 5: CÁC YẾU TỐ KHỐNG CHẾ QUẶNG HÓA VÀ TIỀN ĐỀ, DẤU HIỆU TÌM KIẾM QUẶNG ĐỒNG VÙNG BIỂN ĐỘNG-QUÝ SƠN

5.1. Các yếu tố khống chế quặng

5.2. Tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm

5.3. Phân vùng triển vọng quặng hóa đồng vùng Biển Động-Quý Sơn

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá Tổng quan về Quặng Hóa Đồng Biển Đông Quý Sơn

Nghiên cứu về quặng hóa đồng tại khu vực Biển Đông - Quý Sơn đã thu hút sự quan tâm đáng kể từ giới địa chất. Vào những năm 1960, các nhà nghiên cứu Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam đưa ra giả thuyết về nguồn gốc trầm tích của quặng đồng ở đây, gọi là "cát kết ngậm đồng". Tuy nhiên, đến năm 1976, Đoàn Kỳ Thụy lại cho rằng quặng đồng có nguồn gốc nhiệt dịch trung bình - thấp. Đến năm 2013, Trần Bỉnh Chư lại khẳng định quặng đồng vùng Biển Động - Quý Sơn thuộc kiểu mỏ dạng tầng. Luận án này nhằm làm sáng tỏ bản chất của quặng hóa đồng trong thành tạo trầm tích vùng Biển Đông - Quý Sơn bằng những kết quả nghiên cứu mới nhất.

1.1. Vị trí và tầm quan trọng của vùng nghiên cứu

Vùng nghiên cứu nằm ở phía Đông - Đông Nam Bồn trũng An Châu, thuộc hai huyện Lục Ngạn và Sơn Động tỉnh Bắc Giang. Khu vực này chịu ảnh hưởng lớn từ các hoạt động kiến tạo liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của bồn trũng An Châu. Hầu hết các nhà địa chất đều đồng ý rằng bồn trũng An Châu là một bồn rift nội lục. Vị trí địa lý này quyết định nhiều đặc điểm địa chất của quặng hóa đồng.

1.2. Mục tiêu chính của luận án nghiên cứu địa chất này

Luận án đặt ra mục tiêu làm sáng tỏ đặc điểm địa chất, thành phần vật chất quặng, đặc điểm biến đổi đá vây quanh và điều kiện hóa lý dung dịch tạo quặng. Từ đó, xác định nguồn gốc và điều kiện thành tạo quặng đồng trong các thành tạo trầm tích vùng Biển Động - Quý Sơn. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về quá trình hình thành quặng hóa đồng và tiềm năng khai thác.

II. Phân tích thách thức Nguồn gốc Quặng Đồng Trầm Tích còn tranh cãi

Vấn đề nguồn gốc của quặng đồng tại Biển Đông - Quý Sơn vẫn còn là một thách thức lớn đối với các nhà địa chất. Các ý kiến khác nhau về nguồn gốc trầm tích, nhiệt dịch, hay mỏ dạng tầng, cần được làm rõ. Luận án này đặt mục tiêu giải quyết những tranh cãi này bằng cách áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại và phân tích sâu sắc các đặc điểm địa chất, khoáng vật học và địa hóa của quặng đồng.

2.1. Sự khác biệt trong các nghiên cứu trước đây

Trong quá khứ, nhiều quan điểm khác nhau đã được đưa ra về nguồn gốc của quặng đồng. Một số nhà nghiên cứu cho rằng quặng đồng có nguồn gốc trầm tích, trong khi những người khác lại nghiêng về nguồn gốc nhiệt dịch. Sự khác biệt này có thể là do hạn chế về phương pháp nghiên cứu và dữ liệu có sẵn tại thời điểm đó. Cần có một nghiên cứu toàn diện để giải quyết những mâu thuẫn này.

2.2. Thiếu dữ liệu về điều kiện thành tạo quặng đồng

Một trong những thách thức lớn là thiếu dữ liệu chi tiết về điều kiện thành tạo quặng đồng. Các thông tin về nhiệt độ, áp suất, thành phần dung dịch, và sự tương tác giữa các yếu tố địa chất khác nhau vẫn còn hạn chế. Việc thu thập và phân tích dữ liệu này là rất quan trọng để xác định chính xác nguồn gốc và quá trình hình thành quặng đồng.

III. Phương pháp tiếp cận Nghiên cứu Địa Chất Quặng Đồng Biển Đông chi tiết

Để làm sáng tỏ bản chất của quặng hóa đồng trong thành tạo trầm tích vùng Biển Đông - Quý Sơn, luận án sử dụng một tổ hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại. Các phương pháp này bao gồm: Nghiên cứu cấu trúc địa chất vùng Biển Động - Quý Sơn, Nghiên cứu đặc điểm thành phần vật chất, Nghiên cứu điều kiện thành tạo, Nghiên cứu các yếu tố khống chế quặng hoá đồng, Xác lập kiểu nguồn gốc và tiến trình tạo quặng đồng vùng nghiên cứu, Xác lập các tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm-dự báo. Những phương pháp này sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện và chi tiết về quặng đồng.

3.1. Tổ hợp các phương pháp nghiên cứu thực địa

Nghiên cứu thực địa đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin trực tiếp về quặng đồng và môi trường địa chất xung quanh. Các hoạt động bao gồm khảo sát, xác định vị trí các thân quặng trong các mặt cắt địa chất chính, xác định thành phần các đá vây quanh quặng, xác định các điều kiện kiến tạo khống chế định vị thân quặng, và thu thập mẫu quặng và đá. Những dữ liệu này là cơ sở để phân tích và đánh giá trong phòng thí nghiệm.

3.2. Ứng dụng các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

Các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm cho phép xác định chi tiết thành phần vật chất và hóa học của quặng đồng. Các phương pháp được sử dụng bao gồm phân tích khoáng tướng, phân tích thạch học lát mỏng, phân tích quang phổ plasma (ICP, ICP-MS), phân tích hiển vi điện tử quét (SEM), phân tích đồng vị S, O, C, phân tích nhiệt độ đồng hóa bao thể, phương pháp nghiệm lạnh xác định độ muối trong bao thể, phương pháp quang phổ Raman xác định thành phần bao thể, và các phương pháp xử lý và luận giải số liệu.

IV. Kết quả bất ngờ Nguồn gốc nhiệt dịch cho Quặng Đồng Biển Đông

Kết quả nghiên cứu của luận án đã đưa ra một luận giải khoa học về nguồn gốc và điều kiện thành tạo quặng đồng vùng Biển Động - Quý Sơn: Nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ trung bình - thấp. Đây là một kết quả nghiên cứu mới quan trọng, đóng góp cho khoa học địa chất và công tác đào tạo của trường Đại học Mỏ - Địa chất. Luận điểm này sẽ thay đổi cách nhìn nhận về quá trình hình thành quặng đồng tại khu vực.

4.1. Bằng chứng về nguồn gốc nhiệt dịch trung bình thấp

Các kết quả phân tích khoáng vật học, địa hóa, và bao thể lỏng trong quặng đồng đã cung cấp bằng chứng vững chắc về nguồn gốc nhiệt dịch trung bình-thấp. Tổ hợp cộng sinh khoáng vật đặc trưng, thành phần hóa học, và nhiệt độ đồng nhất của bao thể lỏng cho thấy quặng đồng được hình thành từ dung dịch nhiệt dịch có nhiệt độ tương đối thấp. Cụ thể là tổ hợp khoáng vật đặc trưng là tetrahedrit - tennantit - chalcosin - bornit - chalcopyrit.

4.2. Vai trò của dung dịch nhiệt dịch và nguồn gốc nước

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng dung dịch nhiệt dịch có vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển và kết tủa đồng. Nguồn nước của dung dịch nhiệt dịch có thể là sự pha trộn giữa nước magma, nước trầm tích carbonat biển và nước khí tượng. Sự pha trộn này tạo ra môi trường hóa học lý tưởng cho sự hình thành quặng đồng.

V. Yếu tố then chốt Cấu trúc khống chế Quặng Hóa Đồng tại Biển Đông

Luận án xác định rằng quặng hóa đồng vùng Biển Động - Quý Sơn phân bố chủ yếu trong các đới dập vỡ kiến tạo phương á vĩ tuyến đến đông bắc - tây nam và bị khống chế bởi hai yếu tố chính: Yếu tố cấu trúc kiến tạo: Hệ thống đứt gãy dạng vòng cung phương á vĩ tuyến đến đông bắc - tây nam đóng vai trò phân phối và chứa quặng, Yếu tố thạch - địa tầng: Các đá trầm tích lục nguyên chứa vôi thuộc phân hệ tầng giữa và trên của hệ tầng Mẫu Sơn.

5.1. Vai trò của hệ thống đứt gãy trong phân bố quặng

Hệ thống đứt gãy dạng vòng cung phương á vĩ tuyến đến đông bắc - tây nam đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sự phân bố của quặng đồng. Các đứt gãy này tạo ra các kênh dẫn và bẫy cho dung dịch nhiệt dịch, cho phép đồng kết tủa và tích tụ thành các thân quặng.

5.2. Ảnh hưởng của thành phần đá đến sự thành tạo quặng

Các đá trầm tích lục nguyên chứa vôi thuộc phân hệ tầng giữa và trên của hệ tầng Mẫu Sơn cũng đóng vai trò quan trọng. Thành phần hóa học và độ xốp của các đá này tạo ra môi trường thuận lợi cho sự kết tủa và tích tụ đồng. Đặc biệt các lớp đá vôi sét và phiến sét bị dolomit hóa, thạch anh hóa, clorit hóa là nơi tập trung khoáng hóa đồng.

VI. Tiềm năng tương lai Tìm kiếm Quặng Đồng theo dấu hiệu địa chất

Nghiên cứu cung cấp các tài liệu mới về cấu trúc địa chất, tướng đá và kiến tạo vùng nghiên cứu, làm cơ sở để xác định tiền đề tìm kiếm và các yếu tố khống chế quặng hóa, đã xác định 03 kiểu biến đổi nhiệt dịch vây quanh quặng là dolomit hóa, thạch anh hóa, clorit hóa và đặc điểm phân bố của chúng trong vùng nghiên cứu, cung cấp các tài liệu mới về nhiệt độ, áp suất, thành phần vật chất của các bao thể trong thạch anh và thành phần đồng vị bền (S, C, O) của các khoáng vật quặng, phi quặng.

6.1. Các dấu hiệu tìm kiếm và dự báo quặng đồng

Nghiên cứu đã xác định các dấu hiệu quan trọng để tìm kiếm và dự báo quặng đồng. Các dấu hiệu này bao gồm sự xuất hiện của các đới dập vỡ kiến tạo, sự biến đổi nhiệt dịch của đá vây quanh, và sự có mặt của các khoáng vật chỉ thị như tetrahedrit, tennantit, chalcosin, bornit, và chalcopyrit.

6.2. Định hướng cho công tác tìm kiếm thăm dò quặng đồng

Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc định hướng cho công tác tìm kiếm và thăm dò quặng đồng trong vùng Biển Động - Quý Sơn và các khu vực lân cận có điều kiện địa chất tương tự. Việc áp dụng các kết quả nghiên cứu này có thể giúp tăng hiệu quả của công tác thăm dò và giảm thiểu rủi ro.

17/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÙNG BIỂN ĐỘNG - QUÝ SƠN 1. Vị trí vùng nghiên cứu trên bình đồ cấu trúc khu vực Vùng Biển Động - Quý Sơn có diện tích chủ yếu nằm trong bồn trũng An Châu (hình 1.1) và chịu sự chi phối của các hoạt động kiến tạo liên quan đến quá trình hình thành, phát triển của bồn trũng này. Hiện tại, hầu hết các nhà địa chất Việt Nam đều cho rằng bồn trũng An Châu là bồn rift nội lục, [34]. Vị trí vùng nghiên cứu trên bình đồ kiến tạo, phần đất liền Miền Bắc Việt Nam.

Trích lược từ bản đồ các đơn vị kiến tạo chính ở Việt Nam (Trần Văn Trị, Nguyễn Xuân Bao, 2008) Rift An Châu nằm chồng lên phần phía nam của đai tạo núi nội lục Paleozoi sớm Đông Bắc-Bắc Bộ và bị khống chế bởi ba đới đứt gãy lớn; đó là đới đứt gãy Sông Lô ở phía tây, đới đứt gãy Sông Thương ở phía bắc và đới đứt gãy Yên Tử - Tấn Mài ở phía nam. Đầu mút của rift là nơi giao nhau của đới đứt gãy Sông Lô và đới đứt gãy Sông Thương tại dãy núi Tam Đảo. Từ đầu mút “Tam Đảo” rift An Châu kéo dài và mở rộng dần theo hướng từ đông nam qua hướng á vĩ tuyến rồi chuyển sang hướng đông bắc qua biên giới Việt-Trung sang Quảng Tây Trung 8 Quốc. Trong lãnh thổ Việt Nam, rift An Châu dài khoảng 250 km, chỗ rộng nhất khoảng 100 km, nằm sát biên giới Việt - Trung, đoạn từ Đồng Đăng (Lạng Sơn) đến Bình Liêu (Quảng Ninh).

Lịch sử nghiên cứu địa chất và khoáng sản đồng vùng Biển Động - Quý Sơn 1. Lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực Dựa vào mốc thời gian, mức độ và kết quả nghiên cứu có thể chia lịch sử nghiên cứu địa chất vùng thành 2 giai đoạn: a. Giai đoạn trước năm 1945 Từ xa xưa trong vùng đã có những công trình khai thác khoáng sản của người Hoa và người Việt, hiện vẫn còn để lại vết tích khai thác, [2]. - Cuối thế kỷ 19, cùng với sự đô hộ nước ta, người Pháp đã cho tiến hành các nghiên cứu địa chất đầu tiên ở Việt Nam.

Ngay từ năm 1886, lần đầu tiên nhà địa chất Pháp Douville H. đã phát hiện những hoá thạch Trias biển ở vùng Lạng Sơn. thành lập Bản đồ địa chất Bắc Bộ tỷ lệ 1:500. Ông đã phát hiện hoá thạch trong tầng đá phiến sét đen xen kẽ với trầm tích màu đỏ ở vùng An Châu, các hóa thạch này được Mansuy H.

xác định là Estheriaminuta Alberti và di tích cá. Ông cho rằng các trầm tích ở đây được thành tạo trong môi trường đầm lầy, hồ ao và có tuổi Reti, có chứa than trong cát kết màu đỏ ở An Châu nhưng không có giá trị công nghiệp; Các thành tạo này nằm phủ trái khớp lên tất cả các thành tạo cổ hơn kể cả trầm tích chứa than Hòn Gai. đã phân chia trầm tích Trias chứa hóa thạch ở Đông Bắc Bộ thành 4 tập. đã cho rằng các thành tạo phun trào ryolit ở Đông Bắc Bộ có tuổi Trias sớm - giữa.

Cũng trong thời gian này, Colani M. đã phát hiện các trầm tích chứa than lignit dọc trũng Cao Bằng - Lạng Sơn - Lộc Bình dựa vào các di tích thực vật và xếp tuổi Pliocen. - Trên Bản đồ địa chất vùng Đông Bắc Bắc Bộ tỷ lệ 1:200. thành lập năm 1927 nhiều phân vị (bậc) được phân chia chi tiết ở vùng Lạng Sơn, 9 Lạng Nắc.

Các phun trào ryolit ở vùng Lạng Sơn được ông xếp vào giữa Virglori và Carni. Tất cả các trầm tích cacbonat từ Dinanti đến Permi được gộp chung vào hệ “Antracolit”. - Trong những năm tiếp sau, một phần dựa vào sự tổng hợp các tài liệu có trước, các tờ Bản đồ tỷ lệ 1:500.000 Cao Bằng, Hà Nội ra đời. Trong công trình tổng hợp "Đông Dương thuộc Pháp, cấu trúc địa chất, các đá, mỏ quặng và mối liên quan của chúng với kiến tạo” Fromaget J.

(1941) đã nêu những nét cơ bản về cấu trúc Bắc Bộ. - Về khoáng sản, các nhà địa chất Pháp không công bố các tài liệu liên quan đến các mỏ mà họ đã khai thác. Hiện được biết họ đã có những công trình thăm dò và khai thác chì - kẽm ở Đồng Mỏ. Giai đoạn sau 1945 đến nay Trong thời gian 9 năm chiến tranh (1945 - 1954) chỉ xuất hiện các công trình mang tính tổng hợp các tài liệu có trước do các nhà địa chất Pháp tiến hành.

- Bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1:2. Trên Bản đồ này đã thể hiện những nét khái quát về các mức địa tầng, cấu trúc địa chất của lãnh thổ. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1954), công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế bắt đầu. Sở Địa chất được thành lập và sau đó là Tổng cục Địa chất.

Vào thời kỳ này các nghiên cứu chủ yếu do các nhà địa chất Việt Nam tiến hành với sự giúp đỡ và cố vấn của các chuyên gia địa chất Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Tiệp Khắc (cũ). - Năm 1958, công trình tổng hợp các tài liệu cũ do Adolun A. chủ biên đã cho ra đời Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500. - Năm 1959 - 1961, để phục vụ cho công tác tìm kiếm, thăm dò dầu mỏ - khí đốt, Kitovani S.

đã thành lập Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000, kèm theo các sơ đồ về tướng đá - cổ địa lý, sơ đồ kiến tạo. Trong công trình này, ông đã ghép vùng Đông Bắc Bắc Bộ vào Nam Trung Hoa và cho rằng vùng An Châu là vùng có triển vọng chứa dầu - khí. Trầm tích chứa than và trầm tích màu đỏ 10 ở vùng Hòn Gai, Móng Cái, An Châu có cùng tuổi Nori nhưng có sự khác nhau về màu sắc, kiểu mặt cắt trầm tích là do thay đổi về tướng đá. Mặc dù, công trình này còn có những hạn chế về tài liệu thực tế, song cũng có vai trò nhất định trong định hướng nghiên cứu địa chất dầu khí ở miền Bắc Việt Nam và là tài liệu tham khảo cho công trình nghiên cứu địa chất khu vực về sau.

- Năm 1959 - 1963, các nhà địa chất Đoàn 20, với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, dưới quyền chủ biên của Dovjikov A. đã tiến hành thành lập Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500. Lần đầu tiên tập thể các nhà địa chất Việt Nam đã sử dụng đồng bộ các phương pháp cổ sinh - địa tầng, thạch học, cấu trúc kiến tạo, sinh khoáng vào nghiên cứu địa chất và kết quả là xây dựng được một Bản đồ địa chất với những sắc thái mới. Vùng Biển Động - Quý Sơn nằm trong hệ chuẩn uốn nếp “Đông Việt Nam”, chủ yếu thuộc đới tướng cấu trúc An Châu với sự có mặt của các hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms), Hà Cối (J1hc), hệ Jura không phân chia (các đá phun trào acid).

Một số các phân vị địa tầng trên hiện vẫn đang được sử dụng, tuy ít nhiều đã có những thay đổi, bổ sung. Mặc dù còn có những tồn tại, nhưng công trình này vẫn là một công trình có giá trị nhất trong lĩnh vực nghiên cứu địa chất khu vực từ năm 1965 trở về trước và cho đến nay vẫn có vai trò trong việc định hướng nghiên cứu địa chất ở miền Bắc. - Năm 1963, để phục vụ cho công tác tìm kiếm than, Cao Thế Long và Phan Cự Tiến đã thành lập Sơ đồ địa chất vùng An Châu tỷ lệ 1:100. Các tác giả đã phân chia các trầm tích Mesozoi chi tiết hơn.

Hệ tầng Hà Cối được phân chia thành 3 phân hệ tầng có tuổi Reti và cho rằng phân hệ tầng giữa và trên có triển vọng về than. Sự phân chia trên ít nhiều chưa có cơ sở chắc chắn. - Đoàn Kỳ Thụy và tập thể Đoàn địa chất 20G năm 1976 đã thành lập Bản đồ địa chất tờ Lạng Sơn tỷ lệ 1:200. Vùng nghiên cứu thuộc góc đông nam của tờ Bản đồ này.

Các mỏ và điểm khoáng hoá đồng trong hệ tầng Mẫu Sơn được các tác giả cho là có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ trung bình - thấp. - Trong thời gian 1986 - 1996, Nguyễn Văn Hoành và nnk. đã tiến hành hiệu đính loạt tờ Bản đồ địa chất Đông Bắc tỷ lệ 1:200. 11 - Năm 1997, Viện nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản tiến hành đo vẽ Bản đồ địa chất nhóm tờ Thanh Mọi tỷ lệ 1:50.000 và tìm kiếm chi tiết hóa một số khu vực có triển vọng về quặng đồng đa kim, vàng… trong đó, có khu vực Sơn Động - Lục Ngạn.

Trong giai đoạn này ngoài việc áp dụng phương pháp tìm kiếm trên mặt bằng các lộ trình địa chất, tìm kiếm địa hoá, địa vật lý, đã thi công một khối lượng các công trình hào, vết lộ dọn sạch. Kết thúc giai đoạn này đã khoanh định được 7 thân quặng đồng (3 thân ở Xóm Rèm và 4 thân ở Xóm Lân thuộc xã Giáo Liêm) và 8 thân quặng chì - kẽm (5 thân quặng ở khu vực Khe Áng và 3 thân quặng ở khu vực Núi Mỏ thuộc xã Vân Sơn) có quy mô khác nhau và dự tính tài nguyên cấp 333 và 334a cho một số thân quặng đồng, chì - kẽm vùng Sơn Động - Lục Ngạn. Kết quả tìm kiếm chi tiết hóa đã xác nhận sự có mặt của các thân quặng đa kim (đồng, chì kẽm) có hàm lượng khá cao, quy mô trung bình và nhỏ, phân bố tập trung thành các đới kéo dài theo phương đông bắc - tây nam, một số đới có phương á vĩ tuyến hoặc á kinh tuyến. - Đồng thời với công tác đo vẽ bản đồ địa chất, công tác địa vật lý cũng được tiến hành.

Trên phạm vi vùng nghiên cứu đã có các Bản đồ trọng lực và dị thường xạ gama tỷ lệ 1:500.000, Bản đồ từ hàng không (Ta) và Bản đồ trọng lực tỷ lệ 1:200.000, kèm theo công tác đo xạ mặt đất. Những kết quả trên cho thấy rằng: + Từ trường trong khu vực phẳng, có cường độ nhỏ và hầu như không xuất hiện dị thường địa phương, không có dị thường xạ đáng quan tâm. + Đá của các thành tạo địa chất đều có cường độ phóng xạ khá thấp. Cũng như công tác nghiên cứu đo vẽ địa chất, việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác khoáng sản ở Sơn Động - Lục Ngạn trong giai đoạn sau được đẩy mạnh rất nhiều.

Song trên diện tích vùng nghiên cứu, các khoáng sản không kim loại hầu như chưa được quan tâm đúng mức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ