Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền và vấn đề đổi mới quy trình lập pháp ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền và một số vấn đề đặt ra trong việc đổi mới, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2005

105
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.1. TỔNG QUAN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.1.1. Nguồn gốc tư tưởng của Nhà nước pháp quyền

1.1.2. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời cổ đại

1.1.3. Học thuyết về Nhà nước pháp quyền

1.1.4. Khái niệm và đặc điểm của Nhà nước pháp quyền

1.1.5. Một số nét đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.1.6. Mục đích của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là bảo đảm và bảo vệ quyền công dân, quyền con người

1.1.7. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước

1.1.8. Phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.1.9. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

1.1.10. Mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền

1.1.11. Đặc điểm của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền

1.1.12. Pháp luật vì con người

1.1.13. Pháp luật phải bảo đảm tính dân chủ

1.1.14. Pháp luật phải bảo đảm tính khách quan

1.1.15. Tính nhân đạo, công bằng của pháp luật. Tính tối cao của đạo luật trong hệ thống văn bản pháp luật và nguyên tắc pháp chế trong Nhà nước pháp quyền

1.1.16. Bảo đảm tính tối cao của các đạo luật trong hệ thống văn bản pháp luật

1.1.17. Bảo đảm nguyên tắc pháp chế

1.1.18. Tính minh bạch, công khai của pháp luật

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHUNG PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐỔI MỚI QUY TRÌNH LẬP PHÁP NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

2.1. Thực trạng khung pháp luật tại Việt Nam hiện nay

2.1.1. Hạn chế và tồn tại

2.1.2. Về tính toàn diện, thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

2.1.3. Về tính khả thi

2.1.4. Về tính khách quan

2.1.5. Về tính minh bạch

2.1.6. Về việc phát huy hiệu lực các văn bản pháp luật

2.2. Sự cần thiết phải đổi mới quy trình lập pháp

2.2.1. Quy trình lập pháp

2.2.2. Mối quan hệ giữa quy trình lập pháp và chất lượng công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội

2.2.3. Khái niệm quy trình lập pháp

2.2.4. Phân biệt quy trình lập pháp và quy trình lập quy

2.2.5. Một số nét về thực trạng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta hiện nay

2.2.6. Sự cần thiết đổi mới quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay

2.2.7. Hoàn thiện quy trình lập pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác lập pháp của Quốc hội

2.2.8. Hoàn thiện quy trình lập pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐỔI MỚI QUY TRÌNH LẬP PHÁP

3.1. Đổi mới quy trình xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

3.2. Đổi mới công tác xây dựng dự án luật, pháp lệnh

3.3. Đổi mới công tác soạn thảo dự án luật, pháp lệnh

3.4. Nâng cao vai trò và trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình soạn thảo

3.5. Đổi mới quy định về Ban soạn thảo

3.6. Thu hút chuyên gia tham gia góp ý kiến vào dự thảo luật, pháp lệnh

3.7. Chính sách đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức

3.8. Nâng cao chất lượng thẩm tra của cơ quan thẩm tra

3.9. Phát huy trí tuệ và quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo luật, pháp lệnh

3.10. Xây dựng tiêu chí cần thiết để lấy ý kiến nhân dân về dự án luật, pháp lệnh

3.11. Tài liệu gửi xin ý kiến

3.12. Về việc tập hợp, tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu

3.13. Việc phản hồi

3.14. Vấn đề kết hợp việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân, đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội

3.15. Nâng cao vai trò của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc chỉ đạo việc tiếp thu chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh

3.16. Hoàn thiện quy trình thông qua luật tại kỳ họp Quốc hội

3.17. Tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tọa phiên họp Quốc hội. Quy định về hình thức phiếu xin ý kiến đại biểu Quốc hội

3.18. Hoàn thiện quy định về thủ tục biểu quyết những nội dung cơ bản của dự án luật trong lần trình thứ nhất

3.19. Hoàn thiện công tác giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo

3.20. Đổi mới hoạt động công bố luật, pháp lệnh

3.21. Tăng cường công tác nghiên cứu, thông tin phục vụ đại biểu Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội

3.22. Quy định về trình tự xây dựng dự án luật, pháp lệnh theo trình tự rút gọn

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc điểm pháp luật trong nhà nước pháp quyền Việt Nam

Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một mô hình chính trị đặc thù, trong đó pháp luật đóng vai trò trung tâm trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đặc điểm pháp luật trong nhà nước pháp quyền không chỉ thể hiện qua tính minh bạch, công bằng mà còn qua việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Pháp luật phải đảm bảo tính khả thi và hiệu lực trong thực tiễn, đồng thời phản ánh được nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân.

1.1. Đặc điểm pháp luật trong nhà nước pháp quyền Việt Nam

Pháp luật trong nhà nước pháp quyền Việt Nam có những đặc điểm nổi bật như tính tối cao của đạo luật, tính minh bạch và công khai. Điều này có nghĩa là mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật, và pháp luật phải được công bố rõ ràng để mọi người có thể tiếp cận và hiểu biết.

1.2. Nguyên tắc nhà nước pháp quyền và quyền con người

Nguyên tắc nhà nước pháp quyền nhấn mạnh rằng quyền lực nhà nước phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Quyền con người và quyền công dân được bảo vệ và phát huy, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào quá trình lập pháp và thực thi pháp luật.

II. Vấn đề và thách thức trong quy trình lập pháp hiện nay

Quy trình lập pháp tại Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức, từ tính minh bạch đến tính khả thi của các văn bản pháp luật. Nhiều quy định còn chồng chéo, gây khó khăn trong việc thực thi. Việc cải cách quy trình lập pháp là cần thiết để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống pháp luật.

2.1. Hạn chế trong quy trình lập pháp hiện tại

Một số hạn chế trong quy trình lập pháp bao gồm sự chậm trễ trong việc thông qua các dự án luật, thiếu sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội. Điều này dẫn đến việc nhiều quy định không phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn.

2.2. Thách thức trong việc đảm bảo tính minh bạch

Tính minh bạch trong quy trình lập pháp là một yếu tố quan trọng để xây dựng lòng tin của người dân vào hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều quy trình vẫn còn thiếu công khai, gây khó khăn cho việc giám sát và phản biện xã hội.

III. Phương pháp đổi mới quy trình lập pháp hiệu quả

Để nâng cao chất lượng quy trình lập pháp, cần áp dụng các phương pháp đổi mới như tăng cường sự tham gia của người dân, cải cách quy trình soạn thảo và thẩm tra dự án luật. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng văn bản pháp luật mà còn tạo ra sự đồng thuận trong xã hội.

3.1. Tăng cường sự tham gia của người dân

Việc thu hút ý kiến của người dân trong quá trình lập pháp là rất quan trọng. Cần có các kênh thông tin và cơ chế để người dân có thể đóng góp ý kiến, từ đó tạo ra những văn bản pháp luật phù hợp với thực tiễn.

3.2. Cải cách quy trình soạn thảo và thẩm tra

Cần cải cách quy trình soạn thảo dự án luật để giảm thiểu thời gian và thủ tục. Đồng thời, nâng cao chất lượng thẩm tra của các cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo các dự án luật được xem xét kỹ lưỡng trước khi trình Quốc hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong quy trình lập pháp

Việc áp dụng các phương pháp đổi mới trong quy trình lập pháp đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều dự án luật đã được thông qua nhanh chóng và hiệu quả hơn, đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục cải cách để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của hệ thống pháp luật.

4.1. Kết quả đạt được từ việc đổi mới quy trình lập pháp

Nhiều dự án luật đã được thông qua với chất lượng cao hơn, nhờ vào việc áp dụng các phương pháp đổi mới. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu lực của pháp luật mà còn tạo ra sự đồng thuận trong xã hội.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong đời sống xã hội

Các văn bản pháp luật mới đã được áp dụng trong thực tiễn, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội. Tuy nhiên, cần có sự giám sát và đánh giá liên tục để đảm bảo tính hiệu lực và khả thi của các quy định.

V. Kết luận và tương lai của quy trình lập pháp tại Việt Nam

Quy trình lập pháp tại Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện. Việc tiếp tục cải cách quy trình lập pháp là cần thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tương lai của quy trình lập pháp sẽ phụ thuộc vào sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong việc xây dựng và thực thi pháp luật.

5.1. Tương lai của quy trình lập pháp

Tương lai của quy trình lập pháp sẽ được định hình bởi sự tham gia tích cực của người dân và các tổ chức xã hội. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống pháp luật.

5.2. Định hướng cải cách quy trình lập pháp

Cần có các định hướng rõ ràng cho việc cải cách quy trình lập pháp, nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong việc xây dựng và thực thi pháp luật.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền và một số vấn đề đặt ra trong việc đổi mới quy trình lập pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền việt nam xã hội chủ nghĩa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT TRONG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1. TỔNG QUAN VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1. Nguồn gốc tƣ tƣởng của Nhà nƣớc pháp quyền 1. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời cổ đại Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền có nguồn gốc từ xa xưa.

Xã hội loài người đã chuyển từ trạng thái không có Nhà nước, không cần đến Nhà nước sang chế độ có giai cấp, có sự đối kháng và thống trị giai cấp bằng quyền lực nhà nước thông qua công cụ pháp luật. Theo đó, nhờ vào sự thừa nhận và ủng hộ của quyền lực nhà nước, pháp luật trở thành sức mạnh có tính bắt buộc chung, còn quyền lực nhà nước được tổ chức công khai, có trật tự, có giới hạn và trở thành quyền lực công bằng. Dù được diễn đạt với những hình thức và khía cạnh khác nhau nhưng tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời cổ đại đã được phản ánh trong tư tưởng học thuyết chính trị - pháp lý của cả phương Đông và phương Tây.  Ở phương Đông Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc cổ đại diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt xung quanh vấn đề trị nước, an dân bằng cách thức nào, dùng pháp luật hay đạo đức, lễ nhạc.

Nho giáo do Khổng Tử sáng lập lúc đầu chủ trương “nhân trị”, “lễ trị” hoàn toàn nhưng về sau đã phải tìm kiếm đến những yếu tố thích hợp của tư 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tưởng pháp trị. “Lễ trị” của Khổng Tử có tác dụng rất sâu sắc và bao quát, vừa là sự cụ thể hoá, vừa là công cụ, biện pháp để thực hiện đức trị và “chính danh” nhằm tạo ra một trật tự trong các quan hệ gia đình và xã hội. Theo Mạnh Tử, vua vâng mệnh trời để trị dân, nhưng mệnh trời phải hợp với lòng dân, vai trò chủ chốt là của dân và sự phụ thuộc của nhà cầm quyền vào nhân dân. Tuân Tử đã kết hợp “lễ trị với luật” để trị nước.

Có thể coi đây là chiếc cầu nối giữa tư tưởng nhân - lễ trị của Khổng - Mạnh và tư tưởng pháp trị sau này. Hàn Phi Tử đã phát triển tư tưởng pháp trị lên đến đỉnh cao, coi pháp luật là cơ sở duy nhất để quản lý xã hội, pháp luật phải thay đổi theo thời cuộc, “thời biến, pháp biến”. Nho giáo mà tiêu biểu là Khổng Tử cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò của pháp luật nhưng quan niệm và cách thức vận dụng pháp luật khác nhiều so với Hàn Phi Tử. Cùng là dùng hình luật để cai trị nhưng Pháp gia khác với Nho gia.

Pháp gia thì xem việc dùng hình phạt dù nặng hay nhẹ đều là việc hiển nhiên, còn Nho gia khi dùng đến hình phạt cho rằng đó là phương tiện mà không phải là mục đích. Như vậy, các nhà tư tưởng phương Đông ít bàn luận về Nhà nước, pháp luật hơn mà chủ yếu quan tâm đến đường lối, phương thức cai trị con người và xã hội. Tuy nhiên, cũng như các nhà triết học phương Tây, các nhà tư tưởng phương Đông đều coi trọng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Hàn Phi Tử cho rằng, ý muốn cá nhân của các bậc quân vương là cội nguồn của tình trạng vô pháp luật; luật pháp đối với người quý tộc và kẻ hèn mọn phải như nhau.

Đồng thời Nhà nước pháp quyền cũng không loại trừ đạo đức, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiếu đạo đức xã hội sẽ hỗn loạn. Tư tưởng này đã được kế thừa, phát triển qua nhiều thời đại và đến nay vẫn còn nguyên giá trị.  Ở phương Tây Tư tưởng Nhà nước pháp quyền ở phương Tây cổ đại chủ yếu gắn liền với sự phát triển của nền dân chủ Hy Lạp và La Mã, có phần sâu sắc hơn vì được dựa trên cơ sở tư duy triết học. Các nhà tư tưởng chú ý tới tính tối cao của đạo luật và sự tổ chức hợp lý của bộ máy nhà nước.

Họ cho rằng pháp luật là pháp luật tự nhiên, pháp luật xuất phát từ bản chất lý trí của con người và của thế giới xung quanh con người, pháp luật của Nhà nước phải đáp ứng yêu cầu của luật tự nhiên2. Xôcrat (469-399 TCN) là người ủng hộ nguyên tắc pháp chế; cho rằng công lý ở trong sự tuân thủ pháp luật hiện hành, sự công minh và sự hợp pháp đều là một; nếu không tuân thủ pháp luật thì cũng không có Nhà nước và trật tự pháp luật; nếu các công dân của Nhà nước tuân thủ pháp luật thì Nhà nước đó sẽ vững mạnh và phồn vinh. Platon (427-374 TCN) nhìn thấy sự diệt vong của Nhà nước mà trong đó pháp luật không có sức mạnh và nằm ở dưới quyền lực của ai đó. Theo Platon, ở những nơi nào pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là những nô lệ của pháp luật thì ở đó có sự cứu thoát của Nhà nước.

Platon đã đưa ra một định đề nổi tiếng như sau: cầm quyền bởi một con người - đó là chính quyền chuyên chế; bởi một bộ phận người tốt - đó là chính quyền quý tộc; bởi những công dân tự do thành thị - đó là dân chủ. Arixtot (384 - 322 TCN) - nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại cho rằng pháp luật cần thống trị trên tất cả. Theo ông thì yếu tố cấu thành cơ bản 2 Hoàng Thị Kim Quế, Tư tưởng Đông, Tây về Nhà nước và pháp luật, những nhân tố nhà nước pháp quyền, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3 (3/2002) 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của phẩm chất chính trị trong luật pháp là sự phù hợp của tính đúng đắn về chính trị của nó với tính pháp quyền; không thể có pháp luật nếu như việc cầm quyền không tuân theo pháp luật, chà đạp lên pháp luật, mưu toan thống trị bằng bạo lực. Xixeron (106 - 44 TCN) nêu nguyên tắc tối cao của pháp luật trong đời sống nhà nước bằng quan niệm cho rằng Nhà nước là gì nếu không phải là trật tự chung.

Theo ông, pháp luật là cội nguồn tạo ra chế độ Nhà nước và Nhà nước là Nhà nước pháp quyền không phải vì Nhà nước tuân thủ pháp luật của mình mà là vì về cội nguồn, về bản chất, Nhà nước chính là pháp luật - pháp luật tự nhiên của nhân dân. Như vậy, tư tưởng Nhà nước pháp quyền thời cổ đại nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, đấu tranh xác lập và phát triển nền dân chủ. Theo các nhà triết học phương Tây, pháp luật không chỉ là công cụ cai trị của Nhà nước mà còn là phương thức điều chỉnh quan trọng nhất đối với các quan hệ xã hội, bản thân Nhà nước cũng phải phục tùng pháp luật. Học thuyết về Nhà nước pháp quyền Tư tưởng của các nhà triết học, chính trị học và luật học cổ đại về Nhà nước pháp quyền có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, phát triển của học thuyết về Nhà nước pháp quyền sau này.

Tuy nhiên, điều kiện khách quan quyết định sự hình thành học thuyết Nhà nước pháp quyền là do những đòi hỏi của cuộc cách mạng dân chủ tư sản - cuộc cách mạng giải phóng con người ra khỏi chế độ độc tài, tình trạng vô pháp luật, chuyên quyền của xã hội phong kiến, thiết lập nền dân chủ tư sản. Học thuyết Nhà nước pháp quyền được hình thành và phát triển qua các giai đoạn lịch sử gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các học giả nổi tiếng thế giới như J.Canto… 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhìn chung, các nhà tư tưởng thời cách mạng tư sản quan niệm nội dung Nhà nước pháp quyền có những đặc điểm cơ bản sau: - Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền, con người là mục tiêu và giá trị cao nhất. Nhà nước bảo đảm cho các quyền tự do cơ bản của con người, bảo hộ cho con người trong trường hợp các quyền của họ bị vi phạm kể cả từ phía các cơ quan và nhân viên nhà nước.

Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân và Nhà nước có mối quan hệ qua lại về quyền và nghĩa vụ pháp lý; - Đề cao vai trò của pháp luật, pháp luật được coi như đại lượng làm thước đo chung để hướng dẫn và đánh giá hành vi con người; mọi quan hệ xã hội cơ bản được điều chỉnh bằng pháp luật; - Pháp luật giữ vị trí thống trị trong đời sống xã hội, trong đó đề cao vai trò của Hiến pháp và các đạo luật; - Quyền lực nhà nước được phân định rõ ràng theo ba chức năng cơ bản của Nhà nước là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba chức năng đó giao cho ba cơ quan khác nhau, có vị trí độc lập và ngang nhau trong thế kìm chế và đối trọng để kiểm soát và hạn chế sự lạm dụng quyền lực; - Bảo đảm tính độc lập của cơ quan tư pháp trên cơ sở chỉ tuân theo pháp luật, không bị can thiệp từ phía các cơ quan và cá nhân khác. Các nhà triết học tư sản cũng cho rằng, trong mối tương quan giữa Nhà nước và pháp luật, Nhà nước phải đứng dưới pháp luật, tuân theo pháp luật mặc dù Nhà nước ban hành ra pháp luật bởi vì có một thứ pháp luật khách quan mà tinh thần của nó thì Nhà nước và pháp luật thực định do Nhà nước ban hành cần phải tuân thủ, đó là pháp luật tự nhiên. Pháp luật tự nhiên có trước Nhà nước, đứng trên mọi Nhà nước, được lý trí công nhận, giữ vai trò lãnh đạo cuộc sống và điều chỉnh hành vi của con người.

Do vậy, có thể nói 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học thuyết Nhà nước pháp quyền đã đứng trên thế giới quan triết học pháp quyền để xác định bản chất và chân lý của pháp luật. Khái niệm và đặc điểm của Nhà nước pháp quyền Trong quá trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền, có ý kiến cho rằng, điều quan trọng nhất trong Nhà nước pháp quyền là nguyên tắc phân công rành mạch giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ý kiến khác cho rằng bản chất của Nhà nước pháp quyền nằm ở việc ghi nhận, đề cao và bảo vệ quyền con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ