Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài. Giới thiệu về ba nhà thơ nữ Thái Nguyên. Chương 2: Đặc điểm về thể thơ, vần, nhịp và cách tổ chức bài thơ trong thơ nữ Thái Nguyên Chương 3: Từ ngữ và các biện pháp tu từ thường gặp trong thơ nữ Thái Nguyên. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Thơ và sự phân biệt thơ với văn xuôi 1. Thơ Thơ là một thể loại văn học ra đời từ rất sớm trong đời sống con người, nó tồn tại với sức sống mạnh mẽ suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Nói như Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam thì “… từ bao giờ đến bây giờ, từ Homere đến Kinh Thi đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sự đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những buồn vui của loài người, và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”[47, tr.
Lịch sử phát triển của thơ ca trải dài bao nhiêu thì các định nghĩa về thơ cũng phong phú bấy nhiêu. Bởi lẽ bản chất của thơ rất đa dạng với nhiều biểu hiện và màu sắc phong phú. Mỗi người yêu thơ, làm thơ, nghiên cứu thơ ở một góc độ khác nhau, trên các hệ quy chiếu khác nhau đều có thể đưa ra các nhận định, định nghĩa về thơ khác nhau. Cổ nhân bàn luận nhiều về thơ, Aristore – ông tổ của lí luận văn học đã gọi tất cả các thể loại trong đó có thơ ca là nghệ thuật mô phỏng và sự mô phỏng thể hiện trong tiết tấu, trong ngôn từ, trong giai điệu…, cho nên từ thời cổ đại xưa, đã có người được thiên nhiên phú bẩm cho những tài năng đặc biệt này, chúng phát triển dần lên và từ chỗ ngẫu hứng đã làm nảy sinh ra thơ ca [3, tr.
Sự mô phỏng mà Aristore nói ở đây được hiểu theo nghĩa rộng đó là sự sáng tạo trên cơ sở hiện thực. Khả năng sáng tạo ấy là cái thiên bẩm, cùng với một quá trình phát triển, khi có cảm hứng sẽ sản sinh ra tác phẩm nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật ấy được phân biệt với lời nói hàng ngày ở ngôn từ có tiết tấu, có giai điệu. Như vậy, Aristore đã nêu được những ý cơ sở về quá trình sáng tạo nghệ thuật và một số đặc trưng của văn chương.
Ở Việt Nam, quan niệm về thơ cũng rất phong phú. Mười thế kỉ trung đại, do chịu ảnh hưởng của quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, các ý kiến hầu như chỉ tập trung vào các phương diện nội dung. Phan Phu Tiên trong Việt âm thi tập san đã viết : “Trong lòng có điều gì tất thành hình ở lời, cho nên thơ là để nói chí vậy” [20, tr.45] Ngô Thời Nhậm cũng cho rằng :“Thơ mà quá cầu kì thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì sa vào 6 xảo trá, hoang tưởng, hiu hắt thì phần nhiều sa vào buồn bã. Chỉ có thuần hậu, giản dị, thẳng thắn, không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay mới là đặc sắc chính của thơ” [20, tr.
Đến thế kỉ XX, cùng với sự hình thành của “một thời đại trong thi ca” là sự nở rộ của các quan điểm trên nhiều phương diện. Ngay các nhà thơ Mới, bằng sự trải nghiệm, tâm huyết, sáng tạo của chính mình đã đưa ra các định nghĩa về thơ. Từ cuối thế kỉ XX trở lại đây, người say mê thơ vẫn đi tìm khái niệm thơ. Nhà thơ Trần Dần cho rằng: “Thơ ca không nên là những tụng ca thời thượng mà chỉ đi sâu vào tâm trạng con người.
Thơ cần phải liên tụ đổi mới để đuổi kịp sự phát triển của đời sống” [13, tr.50] Từ phương diện ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu cũng đã có những đóng góp đáng kể trên hành trình tìm đến bản chất của thơ. Jakobson định nghĩa: “Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó”[23, tr. Có thể thấy, nhận định của nhà ngôn ngữ học cô đọng và rất sâu sắc. Điều này được Nguyễn Hữu Đạt lý giải cụ thể hơn: “Thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất dưới dạng các hình tượng nghệ thuật”[11, tr.54] Như vậy, chúng ta có thể tiếp cận và nhận diện khái niệm thơ từ nhiều góc độ, để có định nghĩa đầy đủ nhất về thơ đồng thời chú ý cả hai phương diện nội dung và hình thức không nên cực đoan với yếu tố nào.
Vì thế, trong luận văn này để xác định nền tảng cho việc nghiên cứu chúng tôi chọn cách định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học:“Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhạc điệu” [ 19, tr. Phân biệt thơ với văn xuôi Thơ và văn xuôi có thể phân biệt với nhau qua nhiều tiêu chí: 1. Cách tƣ duy trên chất liệu ngôn ngữ Lời nói mang tính thông báo. Lời văn lời thơ cũng là một dạng đặc biệt của lời nói, nhưng để xây dựng nên các thông báo, cách thức tư duy thao tác của tác giả thơ và tác giả văn xuôi có sự khác biệt.
Chúng ta đều biết, quan hệ liên tưởng và quan hệ 7 ngữ đoạn là hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ, tương ứng với hai phương pháp tạo lời là lựa chọn và kết hợp. Thao tác lựa chọn cho phép tập hợp các đơn vị ngôn ngữ trong cùng một hệ hình. Thao tác kết hợp cho phép kết hợp các đơn vị ấy lại với nhau theo một quy tắc ngữ pháp nhất định để tạo nên thông báo. Nhà văn có thể lựa chọn bất kỳ một đơn vị nào trong hệ hình này để kết hợp với các đơn vị khác trong hệ hình kia và kết hợp chúng với nhau nhưng không được phép lặp lại.
Nghĩa là, để miêu tả bức tranh hiện thực, các thông báo trong văn xuôi bao giờ cũng để gợi nhắc đến ngữ cảnh, không được để xuất hiện ở các thời điểm sát nhau những đơn vị trong cùng hệ hình. Như vậy, văn xuôi làm việc trước hết bằng thao tác kết hợp. Thơ thì ngược lại. Trong thơ tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ được dùng để xây dựng các thông báo.
Tất cả các biến thể của cùng một đơn vị đều có mặt trên thông báo và được kết hợp xây dựng thành các chiết đoạn. Có thể hình dung tư duy trên chất liệu ngôn ngữ của nhà thơ: hình thành các hệ hình, từ hệ hình xây dựng các phương trình rồi từ đó biến các phương trình thành chiết đoạn. Chẳng hạn: “Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng” (Nguyễn Khoa Điềm) Có các hệ hình: Hệ hình 1: Mặt trời của bắp, mặt trời của mẹ, em,. Hệ hình 2: nằm trên đồi, nằm trên lưng Các phương trình: Mặt trời của bắp = Mặt trời của mẹ Nằm trên đồi = nằm trên lưng Chiết đoạn: Mặt trời của bắp + thì nằm trên đồi (+ như) + Mặt trời của mẹ, em + nằm trên lưng Có thể nói, trong thơ các biện pháp điệp âm, điệp vần, điệp thanh, điệp từ ngữ, điệp cấu trúc cú pháp.tạo nên hiệu quả nghệ thuật rất cao, vừa là đặc trưng vừa là sức mạnh của ngôn ngữ thơ.
Sự tương đương giữa các đơn vị ngôn ngữ làm nên các chiết đoạn bao giờ cũng hàm chứa trong đó sự tương đương về mặt ý nghĩa. Cơ cấu lặp lại, kiến trúc song song đã làm cho thông báo thành ra đa nghĩa, có tính chất nước 8 đôi, thành ra nhập nhằng theo nghĩa tốt của từ này. Đó chính là tính hàm xúc ý ở ngoài lời của thơ. Hình thức tổ chức văn bản Ngôn ngữ văn xuôi liền mạch, ngôn ngữ thơ lại chia cắt thành những đơn vị tương ứng nhau.
Tổ chức thơ theo quy luật tuần hoàn âm thanh. Câu thơ có kích thước nội tại còn câu trong văn xuôi không có kích thước bó buộc nào. Về cơ bản, ngữ pháp của thơ khác với ngữ pháp điển phạm của văn xuôi. Cấu trúc ngữ pháp của thơ nhiều khi bất quy tắc (cấu tạo từ, cụm từ, câu, văn bản).
Mỗi dòng thơ không hoàn toàn trùng khít với một câu thơ. Trên phương diện dụng học, mỗi câu thơ thường không trùng khít với một hành động ngôn trung (mục đích nói) mà ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang nhiều màu sắc, âm thanh, ý nghĩa. Trong đó, nhà thơ luôn luôn là chủ thể thực hiện các hành động ngôn trung làm nên tính chất chủ quan, trực tiếp của lời nói (lời thơ) trong giao tiếp với độc giả. Từng chữ trong thơ đều được nhà thơ lựa chọn và nhiều khi cung cấp cho nó ý nghĩa lâm thời theo cảm quan của mình.
Ngôn ngữ thơ còn là một cấu trúc đầy nhạc tính, có sức ngân vang. Đó là cách tổ chức vần, nhịp, cách hoà phối âm thanh. tạo nên những tấm ảnh nghệ thuật trong lòng độc giả. (Trong khi ngôn ngữ văn xuôi gần gũi hơn với lời nói hàng ngày và thiên về cách thức xây dựng cốt truyện, tình tiết, nhân vật,.) Cách thức tổ chức ngôn ngữ thơ khiến cho thơ mang đậm cảm xúc chủ quan của tác giả và chứa nhiều tầng ý nghĩa.
Sự kết hợp giữa ý thức, vô thức và tiềm thức, trực giác, ảo giác và linh giác,. trong thơ khiến cho người đọc không thể sử dụng tư duy lôgíc khách quan mà đôi khi, phải là siêu giác quan để cảm, để hiểu thơ. Ngôn ngữ thơ và đặc trƣng ngôn ngữ thơ. Ngôn ngữ thơ tác phẩm văn chương chính là tư duy trên chất liệu ngôn ngữ.
Thơ là một thể loại thuộc về sáng tác văn học nghệ thuật, chính vì vậy ngôn ngữ thơ trước hết phải là ngôn ngữ văn học “ngôn ngữ nghệ thuật được dùng trong văn học” [17, tr. Nhưng thơ ca có cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ rất độc đáo. Với một lượng đơn vị 9 ngôn ngữ hữu hạn, thơ có khả năng biểu đạt cái vô hạn của cuộc sống, cái phong phú, đa dạng, dồi dào cảm xúc, tình cảm con người. Trên thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã chỉ ra sự khác nhau giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi.
Jacobson đã từng nói rằng: “chức năng của thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết hợp” [23, tr.