Luận án tiến sĩ đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật điều trị hẹp khí quản sau mở khí quản đặt ống nội khí quản

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật điều trị hẹp khí quản sau mở khí quản đặt ống nội khí quản.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2023

176
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giải phẫu khí quản

1.1.1. Giải phẫu khí quản chung

1.1.2. Giải phẫu liên quan

1.1.3. Mạch máu nuôi dưỡng khí quản

1.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng chẩn đoán hẹp khí quản

1.2.1. Cận lâm sàng

1.3. Nguyên nhân, phân loại, cơ chế gây hẹp khí quản

1.4. Các phương pháp điều trị hẹp khí quản

1.4.1. Điều trị bảo tồn

1.4.2. Nội soi can thiệp điều trị hẹp khí quản

1.4.3. Điều trị phẫu thuật khí quản

1.5. Tổng quan các nghiên cứu điều trị ngoại khoa di chứng hẹp khí quản

1.5.1. Các nghiên cứu trên thế giới

1.5.2. Tình hình phẫu thuật cắt nối khí quản tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Phương tiện nghiên cứu

2.4.3. Chỉ tiêu nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá

2.4.4. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.4.5. Xử lý số liệu

2.4.6. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

3.1.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới

3.1.2. Phân bố bệnh nhân theo BMI

3.1.3. Nguyên nhân hẹp khí quản

3.1.4. Đặc điểm lâm sàng trước mổ

3.1.5. Tiền sử bệnh mãn tính kết hợp

3.1.6. Đặc điểm cận lâm sàng trước mổ

3.2. Kết quả phẫu thuật và các yếu tố liên quan

3.2.1. Thời gian phẫu thuật

3.2.2. Đường rạch da

3.2.3. Thủ thuật cắt xương ức mở rộng vết mổ

3.2.4. Các kĩ thuật can thiệp trên khí quản trong phẫu thuật

3.2.5. Độ dài đoạn khí quản cắt

3.2.6. Thời gian lưu ống nội khí quản sau mổ

3.2.7. Thời gian nằm viện

3.2.8. Theo dõi kết quả phẫu thuật

3.3. Mối liên quan giữa các kết quả trước và sau mổ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

4.1.1. Tuổi và giới

4.2. Nguyên nhân dẫn đến hẹp khí quản

4.3. Đặc điểm lâm sàng

4.4. Đặc điểm cận lâm sàng

4.5. Kết quả phẫu thuật

4.5.1. Thời gian phẫu thuật

4.5.2. Đường rạch da

4.5.3. Các kỹ thuật can thiệp trên khí quản trong phẫu thuật

4.5.4. Độ dài đoạn khí quản cắt bỏ

4.5.5. Thời gian lưu ống nội khí quản sau mổ

4.5.6. Tai biến, biến chứng

4.5.7. Thời gian nằm viện

4.5.8. Theo dõi kết quả phẫu thuật

4.5.9. Mối liên quan giữa chỉ số khối BMI và kết quả phẫu thuật

4.5.10. Mối liên quan giữa độ dài đoạn hẹp trên cắt lớp vi tính và biến chứng chung

4.5.11. Mối liên quan độ dài đoạn khí quản cắt bỏ và biến chứng chung

4.5.12. Mối liên quan giữa tình trạng mở khí quản và kết quả phẫu thuật

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm lâm sàng

Đặc điểm lâm sàng của hẹp khí quản sau mở khí quản thường xuất hiện khi đường kính khí quản bị hẹp trên 50%. Các triệu chứng ban đầu thường không rõ ràng, nhưng khi hẹp tiến triển, bệnh nhân sẽ gặp các vấn đề như khó thở, ho khan, và tiếng rít thanh khí quản. Đặc biệt, ho có đờmnhiễm trùng phổi tái phát là những dấu hiệu thường gặp. Các triệu chứng này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, đặc biệt là khi hẹp khí quản đạt mức 75%.

1.1. Triệu chứng khó thở

Khó thở là triệu chứng chính của hẹp khí quản, thường xuất hiện khi đường kính khí quản bị hẹp trên 50%. Bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc thở ngay cả khi nghỉ ngơi, đặc biệt là khi hẹp đạt mức 75%. Điều này có thể dẫn đến suy hô hấp và cần can thiệp y tế khẩn cấp.

1.2. Ho và tiếng rít thanh khí quản

Ho khan là dấu hiệu sớm của hẹp khí quản, sau đó có thể chuyển sang ho có đờm. Tiếng rít thanh khí quản (Stridor) thường xuất hiện khi bệnh nhân cố gắng thở hoặc ho, đặc biệt là trong các cơn ho dữ dội. Đây là dấu hiệu cho thấy sự tắc nghẽn nghiêm trọng trong đường thở.

II. Đặc điểm cận lâm sàng

Đặc điểm cận lâm sàng của hẹp khí quản bao gồm các phương pháp chẩn đoán như nội soi khí quản, cắt lớp vi tính (CT scan), và cộng hưởng từ (MRI). Những phương pháp này giúp xác định chính xác vị trí và mức độ hẹp khí quản. Nội soi khí quản là phương pháp trực tiếp nhất để đánh giá tổn thương, trong khi CT scanMRI cung cấp hình ảnh chi tiết về cấu trúc khí quản và các mô xung quanh.

2.1. Nội soi khí quản

Nội soi khí quản là phương pháp chẩn đoán trực tiếp, cho phép quan sát rõ ràng vị trí và mức độ hẹp. Phương pháp này cũng giúp đánh giá tình trạng niêm mạc khí quản và phát hiện các tổn thương kèm theo như viêm loét hoặc sẹo.

2.2. Cắt lớp vi tính CT scan

CT scan cung cấp hình ảnh chi tiết về cấu trúc khí quản, giúp xác định độ dài và vị trí hẹp. Phương pháp này cũng cho phép đánh giá các mô xung quanh khí quản, giúp lập kế hoạch phẫu thuật chính xác hơn.

III. Phẫu thuật hẹp khí quản

Phẫu thuật hẹp khí quản là phương pháp điều trị hiệu quả nhất đối với các trường hợp hẹp khí quản nặng. Phương pháp này bao gồm phẫu thuật cắt nối khí quảnphẫu thuật tái tạo khí quản. Phẫu thuật cắt nối khí quản thường được áp dụng khi đoạn hẹp ngắn, trong khi phẫu thuật tái tạo khí quản được sử dụng cho các trường hợp hẹp dài hơn hoặc phức tạp hơn.

3.1. Phẫu thuật cắt nối khí quản

Phẫu thuật cắt nối khí quản là phương pháp phổ biến nhất, thường được áp dụng khi đoạn hẹp ngắn. Phương pháp này bao gồm việc cắt bỏ đoạn khí quản bị hẹp và nối lại hai đầu khí quản. Kết quả phẫu thuật thường tốt với tỷ lệ thành công cao.

3.2. Phẫu thuật tái tạo khí quản

Phẫu thuật tái tạo khí quản được sử dụng cho các trường hợp hẹp dài hơn hoặc phức tạp hơn. Phương pháp này bao gồm việc sử dụng các mô ghép hoặc vật liệu tổng hợp để tái tạo lại cấu trúc khí quản. Mặc dù phức tạp hơn, nhưng phương pháp này mang lại hiệu quả lâu dài cho bệnh nhân.

IV. Kết quả phẫu thuật

Kết quả phẫu thuật điều trị hẹp khí quản phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm mức độ hẹp, kỹ thuật phẫu thuật, và tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân. Thời gian phục hồi sau phẫu thuật thường từ vài tuần đến vài tháng, với tỷ lệ thành công cao nếu được thực hiện đúng kỹ thuật. Các biến chứng sau phẫu thuật có thể bao gồm nhiễm trùng, chảy máu, và tái hẹp khí quản.

4.1. Thời gian phục hồi

Thời gian phục hồi sau phẫu thuật thường từ vài tuần đến vài tháng, tùy thuộc vào mức độ hẹp và kỹ thuật phẫu thuật. Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ để phát hiện và xử lý kịp thời các biến chứng.

4.2. Biến chứng sau phẫu thuật

Các biến chứng sau phẫu thuật có thể bao gồm nhiễm trùng, chảy máu, và tái hẹp khí quản. Việc theo dõi và chăm sóc hậu phẫu đúng cách là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ biến chứng và đảm bảo kết quả điều trị tốt nhất.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hẹp khí quản (HKQ) là tình trạng khẩu kính khí quản bị hẹp lại do nhiều nguyên nhân, làm giảm lƣu lƣợng khí lƣu thông, khi đƣờng kính khí quản giảm 50% so với đoạn khí quản lành sẽ xuất hiện triệu chứng khó thở [1]. Hẹp khí quản có thể tiến triển, gây tắc đờm dãi, nhiễm trùng, suy hô hấp, đe dọa tử vong phải xử trí cấp cứu. HKQ do di chứng đặt nội khí quản (NKQ), mở khí quản (MKQ) kéo dài là tổn thƣơng lành tính thƣờng gặp nhất trong thực hành lâm sàng. Theo một số nghiên cứu nƣớc ngoài, t lệ bệnh nhân (BN) mắc HKQ sau MKQ từ 0,6-21%, sau đặt ống NKQ từ 6-21% và t lệ chung trong cộng đồng là 4,9 trƣờng hợp/1 triệu dân/1 năm [2-7].

HKQ đã đƣợc mô tả trong nhiều tài liệu từ những thế kỷ trƣớc. Tuy nhiên phƣơng pháp điều trị HKQ đƣợc đề cập chủ yếu là mở khí quản (MKQ). Cuối thế k IX đến giữa thế k XX, lĩnh vực phẫu thuật khí quản mới thực sự phát triển cùng với sự tiến bộ của gây mê trong phẫu thuật phổi [8, 9]. Cuối thế kỷ XX và đầu XXI, tác giả Hermes C.

Grillo đã có nhiều nghiên cứu, sáng tạo trong phẫu thuật khí quản đặt nền móng cho sự phát triển phẫu thuật khí quản hiện nay [10]. Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu nguyên nhân HKQ và thống nhất cơ chế tổn thƣơng HKQ sau đặt ống NKQ và MKQ do tác động của bóng chèn (Cuff) áp lực cao đè vào niêm mạc khí quản, gây thiểu dƣỡng hệ mao mạch tại chỗ, tiến triển viêm loét tại chỗ, phát triển sẹo và dẫn tới hệ quả hẹp lòng khí quản [11]. Hiện nay, Việt Nam cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới đã và đang áp dụng các biện pháp điều trị HKQ nhƣ: bảo tồn, can thiệp nội soi, nong bóng, đặt stent, laser, phẫu thuật, ghép khí quản tự thân, đồng loại, thay thế bằng vật 2 liệu tổng hợp … Mỗi biện pháp có ƣu điểm và nhƣợc điểm áp dụng phù hợp đối với đặc điểm tổn thƣơng cụ thể. Trong đó, phẫu thuật khí quản giúp tái tạo các mô, mạch và tổ chức liên kết của khí quản gần nhƣ ban đầu với tỷ lệ thành công cao [12, 13].

Nhiều trƣờng hợp, phẫu thuật tái tạo khí quản (KQ) giúp bệnh nhân (BN) tránh bị tàn phế hô hấp (đeo canuyn MKQ suốt đời) và bảo tồn chức năng thanh quản (phát âm, giao tiếp bằng ngôn ngữ). Tuy nhiên, phẫu thuật khí quản đòi hỏi ch định chính xác, áp dụng linh hoạt các kỹ thuật phù hợp cho từng hình thái tổn thƣơng khác nhau, chủ yếu thực hiện tại các đơn vị chuyên sâu. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu điều trị HKQ đã đƣợc tiến hành nhƣ: nong bóng nội soi can thiệp, stent khí quản. tuy nhiên chƣa có nghiên cứu cụ thể về kết quả phẫu thuật tạo hình di chứng HKQ do đặt ống NKQ và MKQ [14-18].

Do đó, với mong muốn tìm hiểu những yếu tố ảnh hƣởng và hiệu quả của phẫu thuật tạo hình điều trị di chứng HKQ sau đặt ống NKQ hoặc MKQ tại bệnh viện Trung ƣơng Quân đội 108 và Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: 1. Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân hẹp khí quản do mở khí quản, đặt ống nội khí quản được điều trị bằng phẫu thuật tạo hình khí quản. Đánh giá kết quả sớm và trung hạn phẫu thuật tạo hình khí quản điều trị hẹp khí quản sau mở khí quản, đặt ống nội khí quản. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.

Giải phẫu khí quản 1. Giải phẫu khí quản chung Khí quản là một ống hình trụ, dẹt ở phía sau, phồng tròn ở phía trƣớc, nằm giữa thanh quản ở trên và cựa khí quản (carina) ở dƣới (Hình 1.1: Hình ảnh khí quản và thiết đồ cắt ngang *Nguồn: theo Silva P. (2017) [19] Khí quản có độ cứng tƣơng đối đảm bảo hình dáng ổn định đáp ứng nhiệm vụ dẫn khí, có độ giãn tƣơng đối linh hoạt để phù hợp theo chuyển động của cổ, di chuyển giữa các loại mô tạng khác nhau vùng cổ ngực, chịu áp lực từ bên ngoài của lồng ngực, chuyển động phía sau của thực quản khi có phản xạ nuốt, xoắn vặn và kéo giãn nhƣng không đƣợc phép hẹp hay tắc nghẽn. Hình dáng của khí quản vì thế cũng thay đổi thƣờng xuyên nhƣ hình 4 nón hay hình phễu tùy theo các hoạt động liên quan [20].

Khí quản bắt đầu từ phần cổ ngay tại dây chằng sụn nhẫn khí quản ở ngang mức cột sống cổ C6 hoặc khe cổ C6-C7 ở ngƣời lớn, tƣ thế cổ trung bình. Khí quản kết thúc trong lồng ngực ở ngay tại cựa khí quản (carina) thƣờng ngang mức D5. Tỷ lệ độ dài của khí quản đoạn cổ và ngực phụ thuộc vào lứa tuổi, hình dáng của cổ và độ rộng của đƣờng ra lồng ngực [21]. Có một quy ƣớc tƣơng đối của một số tác giả khi thực hành lâm sàng: 3/5 khí quản của trẻ em, ch khoảng ½ khí quản ngƣời trƣởng thành trẻ và 1/3 hoặc ít hơn 1/3 khí quản của ngƣời già là trên gờ xƣơng cán ức (Hình 1.2: Vị trí tương đối của khí quản trong các tư thế *Nguồn: theo Grillo H.

Kích thƣớc của khí quản thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ độ tuổi, cân nặng, chiều cao. Ngƣời lớn, khí quản có chiều dài từ 8,5 tới 15cm và đƣờng kính ngang 15-20mm [23]. Khí quản của nam giới trƣởng thành dài trung bình 11,8±2cm từ bờ dƣới của sụn nhẫn tới đ nh của carina và thay đổi tùy theo cá thể [24]. Cơ khí quản co thì đƣờng kính ngang giảm còn 10 – 12mm, do đó khi có dị vật nằm trong khí quản, kết hợp với phản xạ ho thì dị vật sẽ đƣợc đẩy lên tới thanh môn.

Khí quản bao gồm từ 18 - 22 vòng sụn hình chữ C, một vòng sụn khí quản của ngƣời trƣởng thành có chiều cao khoảng 4mm (tƣơng ứng khoảng 2 vòng sụn trên 1cm khí quản). Các vòng sụn có thể không hoàn toàn hoặc tách đôi. Khí quản đƣợc cấu tạo bởi hai lớp: lớp ngoài gồm các nửa vòng sụn đƣợc nối với nhau bởi các thớ sợi chun và ở phía sau có các cơ trơn khí quản. Lớp trong là niêm mạc.

Phẫu thuật viên buộc phải nắm vững các đặc điểm cơ bản trên của khí quản để đo lƣờng và xác định khoảng cắt bỏ trong mổ. Giải phẫu liên quan a. Liên quan đoạn cổ - Khí quản đoạn cổ nằm trên đƣờng giữa, dƣới thanh quản và tƣơng đối sát da: Phía trước: gồm da, tổ chức dƣới da, cơ bám da cổ, cân cổ nông, cân trƣớc khí quản. Eo tuyến giáp che phủ các vòng sụn 2, 3 và 4.

Thấp hơn là tĩnh mạch giáp dƣới, động mạch giáp dƣới và tuyến ức ở trẻ em. Phía sau: có thực quản và thần kinh thanh quản quặt ngƣợc từ nền cổ đi lên trong rãnh giữa khí - thực quản, sát dần khí quản, vào thành sau bên của sụn nhẫn, khi phẫu tích khí quản đoạn cổ cao phải lƣu ý đặc điểm này. Hai bên: có bao cảnh và các thành phần của nó, thuỳ bên tuyến giáp. - Thanh quản là phần đầu của đƣờng hô hấp trên, liên tiếp với khí quản.

Các tổn thƣơng thanh quản, khí quản thƣờng xuất hiện đồng thời trong bệnh lý HKQ do di chứng. Sụn nhẫn là giới hạn dƣới của hạ thanh môn – thanh quản, giới hạn trên của khí quản, vòng sụn hoàn ch nh duy nhất, tƣơng đối chắc (vị trí lòng sụn nhẫn có đƣờng kính nhỏ nhất của đƣờng hô hấp trên). Đoạn hạ thanh môn - thanh quản dài khoảng 1,5cm đo từ giữa dây thanh âm tới rìa thấp nhất của sụn nhẫn. Đây là đặc điểm cần lƣu ý khi xác định tổn thƣơng khí quản đơn thuần hoặc thanh – khí quản kết hợp.3: Liên quan của khí quản đoạn cổ *Nguồn: theo Minnich D.

Mặt phẳng lối thoát lồng ngực (hoặc lối ra – thoracic outlet) là ranh giới chia khí quản đoạn cổ và ngực. Giải phẫu lối ra lồng ngực đƣợc xác định bởi vòng tròn xƣơng gồm: bờ trên cán xƣơng ức phía trƣớc, bờ trên xƣơng sƣờn 1 hai bên và tiếp nối với cột sống ngực phía sau. Xƣơng đòn gắn vào xƣơng sƣờn 1 và xƣơng ức ở phía trƣớc (hình 1.4: Lối thoát lồng ngực *Nguồn: theo Urschel H. Liên quan đoạn ngực 7 Khí quản phần ngực nằm trong trung thất trên, đoạn dƣới hơi lệch sang phải vì có cung động mạch chủ tựa vào bên trái (hình 1.5: Liên quan của khí quản đoạn ngực *Nguồn: theo Minnich D.

Phía sau: thực quản nằm hơi lệch sang trái và liên quan đám rối thần kinh thực quản (có dây thần kinh lang thang – dây X). Phía trước: có cung động mạch chủ, động mạch cảnh chung trái, thân động mạch cánh tay đầu, rồi đến tĩnh mạch cánh tay đầu trái, tuyến ức. Bên phải: có thần kinh X, cung tĩnh mạch đơn, tĩnh mạch chủ trên. Bên trái: phần trái cung động mạch chủ, động mạch cảnh chung trái và thần kinh quặt ngƣợc thanh quản trái.

Dƣới chỗ phân chia 2 phế quản gốc là nhóm các bạch huyết khí - phế quản và tim. Mạch máu nuôi dưỡng khí quản Salassa J R và cs (1977) xác định có từ 3 tới 7 nhánh động mạch khí quản chính đi tới hệ thống vòng nối mạch máu dọc khí quản hai bên [27]. Động mạch cấp máu cho khí quản ch ở thành bên đi tới rãnh khí – thực quản, 8 các mạch máu nguyên ủy chia nhánh cho khí quản – thực quản riêng. Bên trái Bên phải Hình 1.6: Mô hình cấp máu khí quản *Nguồn: theo Minnich D.

Nửa trên của khí quản hầu hết đƣợc cấp máu bởi 3 nhánh khí – thực quản của động mạch giáp dƣới. Nguồn cấp máu cho khí quản đoạn giữa và dƣới đƣợc bắt nguồn từ hệ thống động mạch cánh tay đầu, động mạch dƣới đòn bằng các nguồn đa dạng nhƣ: từ động mạch liên sƣờn cao nhất, từ động mạch dƣới đòn, từ động mạch ngực trong bên phải hoặc trực tiếp từ động mạch cánh tay đầu. Động mạch phế quản cung cấp máu chia đều tới carina và đoạn khí quản thấp nhất. Động mạch phế quản xuất phát từ mặt bên phải động mạch chủ ngực có thể có 2 hoặc 3 nhánh.

Thƣờng chia 3 nhánh động mạch phế quản: trên, giữa và dƣới (Hình 1. Có 3 mạng lƣới động mạch kết nối nhau tạo thành vòng nối phủ khắp thành khí quản (Hình 1. Đầu tiên, mạng lƣới ngoài cùng, gồm các nhánh tới khí quản tạo vòng nối dọc khí quản hai bên sau đó đi xuyên qua màng liên sụn 9 chia nhánh vòng ra trƣớc và sau thành khí quản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ