Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về tên gọi, phân loại Cây Phay hay Phay sừng, được gọi là Myaukgno hay Thitkazaw ở Myanma, Lampati ở Ấn Độ, Banderhola ở Pakistan, Linkwai ở Thái, tại Malaysia là Magas, Magasawith, tại Philippines là Loktob, tại Indonesia là Kalam, Trung Quốc là Ba bao su và tại Việt Nam là Phay và Phay sừng (Tint và Kywe, 1985) [41]. Theo Santapau (1958), Duabanga được Francis Hamilton đặt ra từ tiếng bản xứ ở Tripura, Duyabangga; grandiflora, có nghĩa là "hoa lớn", đề cập đến kích thước của những bông hoa của cây này; trong văn học của Ấn Độ, cái cây dưới cái tên của D.
sonneratioides, tên có nghĩa là 'tương tự như Sonnerattia'. Đây là loài rụng lá, là cây bản địa ở phía Đông dãy Himalaya, phía Nam qua Assam đến Myanma và Quần đảo Andaman đến Malaysia, có tốc độ tăng trưởng nhanh. Chúng có thể phân bố ở những khu vực có độ cao khoảng 1.000m so với mực nước biển [35]. Theo từ điển về cây thuốc và thực vật có chất độc của Taylor và Francis (2012), Phay có tên khoa học là Duabanga sonneralioides Buch.
và các tên khác là Duabanga grandiflora (Roxb.; Lagerstroemia grandiflora Roxb.; Leptospartion grandiflora Griff.; Leptospartion grandiflorum (Roxb. Nghiên cứu về đặc điểm hình thái và phân bố Phay là cây gỗ lớn, thân thẳng, vỏ có màu nâu nhạt với các cành mọc ra ở một số nơi có cùng chiều cao quanh thân cây và lan rộng theo chiều ngang theo mọi hướng. Các cành non vỏ mịn, không có lông, hơi vuông. Lá mọc đối, có màu đỏ khi còn non, nằm ngang thành hai hàng ở hai bên của nhánh cây, có hình chữ nhật nghiêng, mặt trên lá màu sáng, mặt dưới xỉn màu.
Lá 4 dài đến 25 cm, rộng tới 10 cm. Hoa mọc từ nách lá, bông hoa to 5 ÷ 7 cm màu trắng. Đài hoa rất dày, hình chuông, chia thành 6 ô; hoa có 6 cánh, sớm rụng; có nhiều nhụy hoa; quả nang tròn hoặc hơi tròn, có kích thước bằng một quả cam nhỏ, nhiều hạt (Santapau, 1958 và Shimrah, 2013) [35], [36]. Có rất nhiều nghiên cứu về đặc điểm phân bố cây Phay trên thế giới.Các nghiên cứu này cho thấy Phay phân bố tự nhiên ở các nước Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia (thuộc khu vực Đông Nam Á); Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan, Butan và một số quốc gia khác, trong các khu rừng mưa thường xanh, phân bố ở độ cao 900 ÷ 1.500 m so với mực nước biển(Graham, Thorne và cộng sự, 1998; Graham, Hall và cộng sự, 2005, dẫn theo Auamcharoen, W.
Theo kết quả nghiên cứu của Dự án quản lý rừng bền vững, thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp và Môi trường Đại học Chittagong, Bangladesh cây Phay có phân bố ở nhiều khu vực rừng tự nhiên của quốc gia này, là cây góp phần vào vị trí thứ 5 trong số các loài cây rừng phổ biến và có giá trị tại đây (Mohammed, J. Tabin và Shrivastava (2014) khi nghiên cứu về hiện trạng và phân bố của loài Aquilaria malaccensis Lam [40]. tại Ấn độ cho thấy, cây Phay thường xuất hiện với loài này trong các trạng thái rừng tự nhiên tại khu vực nghiên cứu, với tổ thành chiếm khoảng 3,33%. Loài cây này cũng phân bố tại miền Tây Bengal Ấn Độ, đây không phải là loài chiếm ưu thế nhưng có vai trò trong hệ sinh thái rừng với chỉ số đa dạng loài Shanon đạt 0,073 (Sarkar, 2017) [34].
Phay cũng phân bố tại miền Tây Himalaya (Govinda và Moyiponger, 2015) [28]. Ở Butan, loài cây này phân bố ở hầu hết các vườn quốc gia và khu bảo tồn, nơi có độ cao dưới 2.000m so với mực nước biển, trong các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới và á nhiệt đới (Mingma, N., 1997 dẫn theo Jianfang Li, 2017) [33]. Bên cạnh đó,nghiên cứu của Santapau (1958) và Shimrah (2013) còn cho thấy, Phay là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh ở phía Đông dãy 5 Himalaya, phía Nam qua Assam đến Myanmar và Quần đảo Andaman (Ấn Độ) đến Malaysia, cây mọc ở độ cao lên tới khoảng 1.000 m so với mực nước biển và thường được tìm thấy dọc theo bờ sông ở một số thung lũng dưới chân dãy Himalaya (Santapau, 1958) [35], [36]. Ở khu vực Tây Bắc Ấn Độ, loài cây này được phân vào nhóm 22 loài cây rừng cho gỗ có giá trị tốt nhất, là 1 trong số 9 loài chiếm tầng vượt tán và thường phân bố ở các dải rừng ven sông, ven suối và ở các đồi thấp.
Ở Nepal và Bangladesh, Phay cũng được tìm thấy tương đối nhiều trong rừng tự nhiên thường xanh. Ở Thái Lan và Trung Quốc, loài cây này có chiều cao lên tới 30m và thường mọc dọc theo các con suối và thung lũng trong rừng thường xanh nhiệt đới ở độ cao lớn hơn 500 m so với mặt nước biển (Sumitra, 2009; Tsukiyama và cộng sự, 2010; Shimrah, 2013) [36], [38], [42].Nghiên cứu về đặc tính sinh lý Trên thế giới hiện chưa có công trình công bố về nhân giống Phay từ hom hay từ nuôi cấy mô tế bào. Các công trình nghiên cứu đã được công bố chủ yếu là kỹ thuật nhân giống Phay từ hạt. Theo Hasnat (2016), tại Bangladesh Phay ra hoa vào tháng 2 - 3, đậu quả từ tháng 4 - 5 và có thể bắt đầu thu hoạch hạt từ tháng 5 - 6.
Ông cũng cho rằng, việc thu hái hạt giống chín và có sức nảy mầm tốt nhất từ cây mẹ khoẻ mạnh và không có bệnh tật là điều cần thiết để nâng cao cây giống chất lượng tốt.Hạt giống Phay sớm mất khả năng nẩy mầm sau khi chín, vì vậy, đòi hỏi người thu hái phải xác định khi nào hạt chín và thời điểm thu hoạch theo đó. Còn theo Bisht (2009), tại Ấn Độ thời điểm thu hoạch hạt Phay vào khoảng tháng 10 - 11, hạt có thể bảo quản trong vòng 3 tháng, tỷ lệ nảy mầm thường đạt khoảng 70%. Trước khi gieo ươm, hạt cần phải ngâm qua đêm trong nước ở nhiệt độ thường sau đó tiến hành gieo trên các luống đã làm đất cẩn thận với độ che bóng thích hợp. Đất trên luống là hỗn hợp đất và cát với tỷ lệ 1:1.
Luống gieo ươm phải được tưới trước khi gieo để hạt không bị cuốn trôi. Lượng hạt gieo trên mỗi m2 là 1 6 gam hạt. Luống sau khi gieo hạt được phủ bằng rơm rạ đã được khử trùng và tưới hàng ngày. Thời gian hạt nảy mầm dao động từ 25 - 90 ngày tùy thuộc vào thời tiết tại thời điểm gieo ươm.
Hạt giống nảy mầm tốt trong điều kiện chiếu sáng hợp lý, tối đa là 80% và không thể nảy mầm trong điều kiện che bóng hoàn toàn. Cần phải loại bỏ những lông mỏng bên ngoài hạt trước khi gieo và nên gieo hạt ngay sau khi phơi khô dưới ánh nắng mặt trời, khoảng tháng 11 hàng năm. Cây giống sẵn sàng cho việc đưa vào bầu chăm sóc sau 4 tháng trên luống gieo ươm, khi cây con có khoảng 3 lá. Thời điểm cấy cây vào bầu cần chọn lúc thời tiết mát mẻ, độ che bóng phù hợp.
Cây con sau khi cấy vào bầu có thể xếp trên các luống, che bóng, chăm sóc, tưới nước phù hợp. Sau khoảng 6 tháng cây con trong bầu có thể đủ tiêu chuẩn mang đi trồng rừng.[26] Santapau (1958) thì cho rằng cây Phay dễ dàng tái sinh tự nhiên bằng hạt và sẽ tốt hơn nếu chúng ta ươm hạt giống, tạo cây con rồi mang cây con đem trồng dưới tán rừng. Kết quả thử nghiệm trồng rừng tại Bombay, Ấn Độ cho thấy rằng cây Phay sinh trưởng phát triển tốt, sau 5 năm đã có chiều cao bình quân đạt 8,0 m. Phay cũng là một trong những loài được đề xuất trong dự án phục hồi rừng và làm giàu rừng trên các kiểu rừng tự nhiên bị tác động ở các mức độ khác nhau tại Bangladest vì loài cây này góp phần vào tổ thành rừng cho cả 3 kiểu rừng nghiên cứu (ít bị tác động, bị tác động trung bình và bị tác động mạnh với chỉ số độ quan trọng (IVI) dao động từ 5,95 ÷ 9,43; là một trong bốn loài phổ biến nhất, xuất hiện thường xuyên trên cả 3 dạng rừng nghiên cứu.
Đây cũng là loài được đề xuất cho việc phục hồi rừng tại các khu vực ở Thái Lan. Các kết quả điều tra đánh giá cho thấy, Phay sinh trưởng phát triển tốt trên nhiều dạng lập địa còn tính chất đất rừng, là loài phù hợp cho công tác phục hồi rừng tại các khu vực nghiên cứu (Sumitra, 2009; Stephen và Cherdsak, 2014; Báo cáo kỹ thuật chương trình REDD+ tại Lào và Thái Lan năm 2012). Nghiên cứu về đặc điểm về cấu tạo gỗ và tính chất vật lý, cơ học gỗ Gỗ Phay có màu xám xanh và chuyển sang nâu nhạt theo thời gian. Gỗ giác và gỗ lõi không có sự phân biệt rõ ràng, gỗ có tỷ trọng là 0,37 và mật độ 27 ÷ 30 lb/c.
Mặt gỗ khi tiếp xúc bằng tay có cảm giác thô ráp do kết cấu thô hoặc rất thô. Độ bền ngang của gỗ Phay thấp hơn 36% so với gỗ Tếch và mềm hơn 34% so với Tếch khi so sánh về độ cứng. Trong thử nghiệm uốn tĩnh, mô đun vỡ của Phay thấp hơn 36% so với Tếch. Gỗ Phay nói chung chịu lực không cao so với các loại gỗ khác, tuy nhiên lại dễ dàng bóc lớp, nên phù hợp cho việc bóc gỗ làm ván ép, cho vân gỗ đẹp (Tint và Kywe, 1985) [41].
Cũng theo Tint và Kywe (1985), các tính chất vật lý và cơ học được xác định dựa trên các mẫu gỗ cây Phay trưởng thành cho thấy có sự khác nhau theo nguồn gốc và tăng trưởng của cây. Tuy nhiên, về cơ bản tính chất vật lý gỗ Phay được xác định như sau: Tỷ trọng gỗ đạt 0,5; độ cứng monnin là 1,6; độ co thể tích là 0,44%; tổng co rút tiếp tuyến (TS) là 6,7%; tổng co ngót xuyên tâm (RS) là 3,5%; điểm bão hòa sợi là 27%; Chịu lực nghiền tối đa là 39MPa, cường độ uốn tĩnh là 64MPa; mô đun đàn hồi là 9. Gỗ Phay có thể nổi được trong nước, dễ bị nấm mốc và mối mọt phá hại nếu để lâu trong điều kiện ẩm ướt [41].5 Giá trị sử dụng Theo các nghiên cứu trên thế giới thì Phay có rất nhiều tác dụng. Ngoài việc sử dụng gỗ trong tất cả các hoạt động có liên quan đến gỗ thì Phay còn có giá trị trong y học, trong công nghệ làm đẹp và phòng chống sâu bệnh hại cho ngũ cốc.
Phay là cây gỗ lớn, tạo ra một khối lượng gỗ khá lớn có thể sử dụng được nhưng nó thường ít được sử dụng (Tint và Kywe, 1985).