mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật 4 cụ thể.I cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống, nhưng không có sự phân hoá về mặt địa lý”. Tác giả đã đưa nhận định số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500-2000 loài. Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật Một trong những nội dung quan trọng khi nghiên cứu hệ thực vật là phân tích các yếu tố địa lý của hệ thực vật. Điều này làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và dẫn giống.
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Một số công trình nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn tới đa dạng hệ thực vật Việt Nam phải kể đến là. “Góp phần nghiên cứu địa lý thực vật Đông Dương” vào năm 1926; “Giới thiệu hệ thực vật Đông Dương” (1944) của Gagnepain J. Các công trình này đã thống kê và sắp xếp các thực vật Đông Dương vào 5 yếu tố địa lý khác nhau gồm: - Yếu tố đặc hữu địa phương : 11,9% - Yếu tố Trung Quốc : 33,8% - Yếu tố Xích kim – Hymalaya : 11,5% - Yếu tố Malaixia nhiệt đới : 15,0% - Yếu tố phân bố rộng và nhiệt đới : 20,8% Các yếu tố đó là một trong những yếu tố chính góp phần tạo nên sự đa dạng của hệ thực vật Việt Nam.
Nghiên cứu những yếu tố này tạo cơ sở đề xuất những giải pháp bảo tồn. Các nghiên cứu này đã chỉ ra được các yếu tố địa lý chủ yếu ảnh hưởng đến sự phân bố của loài và nhóm loài Bảo tồn thực vật: thực chất là bảo tồn các biến dị di truyền hiện tồn tại giữa các xuất xứ, các quần thể, các gia đình và các cây cá thể trong loài; là nguồn gốc của sự đa dạng và đảm bảo cho sự phát triển của loài qua một quá trình tiến hoá mà biến dị di truyền là một yếu tố quyết định. Biến dị di truyền trong một quần thể càng lớn thì càng có nhiều cơ hội để chọn được những cá thể có các đặc tính mong muốn (Zobel ăn Tallbert, 1984). Ngay từ năm 1926, nhà khoa học người Nga là Vavilốp đã đề xuất thu thập hạt các cây hoang dại, các loài cận thân của cây trồng để cung cấp biến dị di truyền cho cải thiện giống cây trồng.
Nghiên cứu về thực vật và thảm thực vật đã có từ lâu. Song, các nghiên cứu quan trọng tập trung nhiều ở thế kỷ 19 - 20. Ở Nga các công trình nghiên cứu hệ 5 thực vật cụ thể được tiến hành từ những năm1928 - 1932. Các công trình nghiên cứu của Tolmachop A.
I (1969), Urxep (1974) đều tập trung vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu của hệ thực vật. Các nghiên cứu chưa đưa ra được các vấn đề cụ thể về bảo tồn và phát triển cho từng loài như thế nào là hợp lý. Trước sự tàn phá của các HST rừng, biến đổi khí hậu và sự suy giảm của đa dạng di truyền (Xói mòn di truyền), các nước ở một số khu vực và các tổ chức quốc tế đã quan tâm nhiều đến việc bảo tồn và quản lý nguồn giống, nguồn gen các loài thực vật và lập nên mạng lưới khu vực về nguồn gen cây rừng như Chương trình nguồn gen cây rừng ở Châu Âu (EUFORGEN-European Ferest Genetic Resources Programme), Chương trình nguồn gen cây rừng Sub-Sahara (SAFORGEN – Sub- Saharan Forest Genetic Resources Programme) và vào năm 2003 là sự ra đời của Chương trình bảo tồn nguồn gen cây rừng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (APFORGEN-Asia Pacific Forest Genetic Resources Programme) mà Việt Nam là một nước thành viên (Luoma-aho et al, 2004). Cây rừng thường được bảo tồn dưới dạng sưu tập cây sống trên thực địa như các Vườn thực vật, Vườn thụ mộc và các khu bảo tồn nguồn gen Ex situ.
Ưu điểm của biện pháp này là cây liên tục sinh trưởng và phát triển, dễ dàng quan sát, đánh giá lâu dài, song yếu điểm là chi phí cao cho việc xây dựng và bảo vệ, nguy cơ sâu bệnh hại,. Vườn thực vật là dạng thông dụng nhất và cổ nhất. Hiện đã có khoảng trên 1500 Vườn. Nhiều Vườn thực vật đã có tuổi trên 100 năm như Vườn thực vật Bogor, Inđônêxia.
Vườn này đã được quyết định xây dựng vào năm 1817 và hiện nay có tổng diện tích 87 ha với một bộ sưu tập khổng lồ, bộ sưu tập thực vật nhiệt đới đầy đủ nhất trên thế giới, bao gồm: 3504 loài của 1273 chi và 199 họ thực vật. Ngoài ra còn một số Vườn sưu tập, Vườn thụ mộc dành riêng cho một hoặc một vài loài. Chẳng hạn ở Malaixia có Vườn thụ mộc của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Malaixia (FRIM) là sưu tập sống của các loài Shorea, sưu tập Cao su (Hevea brasiliensis) ở Viện nghiên cứu Cao su; Sưu tập các loài Cam Chanh (Citrus). Ưu điểm phương pháp này tập trung được nguồn gen các loài, nhưng việc lưu giữ bảo tồn khó khăn khi thay đổi môi trường sinh thái của loài ra ngoài quần thể nguyên thủy của nó.
6 Để có cơ sở nghiên cứu bảo tồn và công tác quản lý, bảo tồn nguồn gen cây rừng, nhiều tổ chức Quốc tế đã xuất bản khá nhiều công trình có liên quan đến phương pháp luận và định hướng bảo tồn (Boyle and Bootawee, 1995; Bryant, 1997; FAO, 1993; FAO/UNEP, 1975; Primark, 1995; Uma shaanker, Ganeshaiah and Bawa, 2001). IUCN (1994, 2001) thì đưa ra các cấp đánh giá mức độ đe doạ cho các loài cây rừng tự nhiên và các cấp này được coi là tiêu chí để lựa chọn các loại bị đe dọa cho bảo tồn. Theo mức phân hạng này thì các loài có thể được xếp vào các cấp: Tuyệt chủng (E), Tuyệt chủng trong hoang dã (EW), Rất nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN), Sắp nguy cấp (VU), Gần đe doạ (NT) và ít liên quan (LC). Vào năm 1998, với sự hợp tác của hàng trăm nhà khoa học trên toàn thế giới, IUCN and WCMC (1998) đã công bố danh sách các loài cây bị đe doạ trên Toàn cầu bao gồm tổng cộng 7388 loài theo tiêu chí IUCN năm 1994, trong đó có một số loài cây rừng của nước ta (theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006).
Ngay trong năm 1993, các kết quả nghiên cứu bảo tồn cũng đã được tập hợp trong một tài liệu hội thảo quốc tế với nhiều bài báo có liên quan đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương (Dryslale, John ăn Yapa, 1993). Tổ chức gỗ nhiệt đới Quốc tế ITTO thì xuất bản hàng loạt sách liên quan đến đánh giá thực trạng, hướng dẫn kỹ thuật và kế hoạch hoạt động bảo tồn cho một số loài cây rừng nhiệt đới quan trọng của khu vực Đông Nam Á (ITTO, 2000a, b, c). Để có cơ sở cho việc lựa chọn các khu và quần thụ để bảo tồn In situ hay thu hái giống cho bảo tồn Ex situ, việc đánh giá mối quan hệ di truyền bên trong mỗi họ thực vật (Family) hoặc chi (Genus) để xác định vị trí của loài cần bảo tồn và đánh giá đa dạng di truyền của loài là rất cần thiết. Bên cạnh việc điều tra khảo sát thực địa thì trong một số năm gần đây, chỉ thị phân tử (DNA markers) đã được sử dụng rộng rãi trong đó phải kể đến các chỉ thị quen thuộc như đồng men (Isoenzyme), ADN đa hình được nhân bản ngẫu nhiên (RAPD), đa hình độ dài các đoạn cắt giới hạn (RFLP), các đoạn được nhân bản chọn lọc (AFLP), các đoạn lặp lại có trình tự đơn giản (SSR), micro-satellite, cpDNA,.
Các nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền đã được thực hiện cho các loài chi Rhizophora, Bruguiera, Ceriops và Kandela của họ Đước (Rhizophoraceae) (Laksmi et al, 2001); P.merkusii và Tectona grandis ở Thái Lan (Changtragoon, 2001); Poplus và neem ở Ấn Độ 7 (Lakshmikumaran et al, 2001). Các nghiên cứu này không chỉ góp phần vào phân loại mà còn dùng để đánh giá mức độ biến dị di truyền giữa các loài và trong loài, biến dị di truyền bên trong mối quần thể để có quyết định quan trọng trong việc lựa chọn quần thể nào cho bảo tồn (Nguyễn Hoàng Nghĩa. Như vậy, việc nghiên cứu về bảo tồn trên thế giới đã có từ rất lâu. Từ những nghiên cứu cơ sở, nghiên cứu lý thuyết đến những nghiên cứu thực nghiệm về bảo tồn thực vật cũng như cây rừng.
Nhưng những nghiên cứu đó vẫn chưa đủ cho những khu hệ thực vật phong phú về quần thể, loài về mức độ đa dạng sinh học như ở Đông Nam Á. Các giải pháp bảo tồn Nghiên cứu của Berkmuller và các cộng sự năm 1992 (Berkmuller., 1992) cho rằng việc nâng cao nhận thức và mối quan tâm của cộng đồng địa phương đối với bảo tồn thiên nhiên và các hoạt động có liên quan là rất quan trọng. Tác giả cho rằng nếu không nâng cao nhận thức trong nhóm mục tiêu về các giá trị sinh thái và giá trị vô hình của khu bảo tồn thiên nhiên thì rừng sẽ tiếp tục bị xem như là một tài nguyên có thể khai thác. Để thực hiện thành công những giải pháp dài hạn cho những vấn đề về môi trường, cần đưa các giá trị của môi trường vào trong các chương trình giáo dục.
Việc xây dựng các qui tắc và qui định cho vùng đệm, vùng tái sinh và vùng lõi của khu BTTN với sự tham gia của các cộng đồng và chính quyền địa phương đã được (Gilmour., 1999), (Dang Dinh Tran., 1991) đề xuất một số hướng dẫn cho các vùng quản lý khác nhau: cấm đốt thảm thực vật trong vùng đệm, tránh trồng những loại cây dễ bắt lửa, cấm đưa vào trong vùng đệm các loài thực vật có nhiều khả năng xâm lấn hay đe doạ khu vực bảo tồn. Cấm bất kỳ một hành động nào có khả năng đe doạ các loài có nguy cơ tuyệt chủng trong khu bảo tồn. Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G (1986) cho rằng đối với cộng đồng dân cư sống trong và gần các khu bảo tồn thiên nhiên, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, Nhà nước cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận, với mục đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng. 8 Ở Canada, trong bài viết của Sherry, E.