Đặt vấn đề Ai cũng biết rằng việc buôn bán trẻ em, phụ nữ nhằm mục đích bóc lột tình dục đã diễn ra từ xưa tới nay. Chính phủ các nước cũng không làm ngơ trước vấn nạn này. Thế nhưng, một thực tế đang xảy ra trong những năm gần đây, nhất là khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em diễn ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng. Một bộ phận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ở trong nước, chủ yếu từ các vùng nông thôn, miền núi ra thành phố, thị xã để làm gái mại dâm.
Còn lại phần lớn phụ nữ trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài, đến nhiều nước khác nhau với nhiều hình thức và mục đích khác nhau. Theo thống kê chưa đầy đủ, đến nay đã có hàng chục nghìn phụ nữ trẻ em Việt Nam bị buôn bán qua biên giới, chủ yếu qua các đường mòn và cửa khẩu, trên tuyến biên giới phía Bắc và phía Tây Nam. Tại phía Bắc, phụ nữ trẻ em bị buôn bán tập trung ở các địa bàn biên giới giáp Việt Nam, được sử dụng làm mại dâm trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ hoặc làm vợ một cách bất hợp pháp. Tại phía Nam, phụ nữ trẻ em bị buôn bán chủ yếu làm mại dâm tại các thành phố lớn và các tỉnh giáp biên giới.
Các nước này còn là địa bàn trung chuyển để buôn bán phụ nữ trẻ em đi các nước xa hơn trong khu vực. Ngoài ra, tình hình phụ nữ trẻ em bị lừa gạt, dụ dỗ, buôn bán sang Đài Loan qua hình thức môi giới hôn nhân, trẻ em Việt Nam bị bán ra nước ngoài qua hình thức cho nhận con nuôi người nước ngoài trong những năm qua cũng là vấn đề rất phức tạp và rất khó kiểm soát. Tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em đã trở thành vấn đề nóng bỏng nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của xã hội, phong tục, tập quán, đạo đức của người Việt Nam. Buôn bán phụ nữ và trẻ em diễn ra ở bốn tuyến rõ rệt: hai tuyến đầu diễn ra ỏ khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lai Châu Lào Cai, Cao Bằng,… chiếm 70% tổng số vụ trên toàn quốc) và biên giới Việt Nam – Campuchia (An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Hậu Giang, Cần Thơ,…), tuyến thứ ba buôn bán quốc tế tới các địa điểm như Macau, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc và tuyến cuối cùng buôn bán trong đất liền, xuyên qua Campuchia và Lào đến Thái Lan và Malaysia.
5 Khu vực đồng bằng sông Cửu Long có nhiều tỉnh giáp biên giới Campuchia, việc giao thông qua lại giữa hai nước rất dễ dàng. Ngoài việc giao thương hàng hóa thì vấn đề di cư của người dân nơi đây kéo theo tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em với nhiều mục đích khác nhau khá là phổ biến. Nạn nhân bị bán sáng Campuchia, từ đó sẽ tiếp tục bị đưa đến các nước khác như Thái Lan, Malaysia, … nhiều khu vực khác ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng diễn ra khá nóng bỏng vấn đề buôn bán phụ nữ dưới hình thức kết hôn hợp tác lao động hoặc du lịch mà các đường dây tổ chức hiện nay thường hướng đến các nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,… Tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em diễn ra ngày càng phức tạp trở thành vấn nạn thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Vì vậy, việc quan tâm giúp đỡ các nạn nhân bị buôn bán trở về là một việc làm thiết thực.
Vấn đề hồi hương những nạn nhân bị buôn bán và hỗ trợ nạn nhân tái hòa nhập cộng đồng luôn là vấn đề đáng quan tâm của các quốc gia trong phòng, chống buôn bán người. Có thể thấy rằng, các nạn nhân của nạn buôn bán người thường được phát hiện trong tình trạng bất lợi và gặp nhiều khó khăn, nhiều người đang phải sống trong các nhà chứa, nơi lao động tồi tệ hoặc đang ở trong các trại tị nạn, trong tình trạng không có giấy tờ, vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh và cư trú bất hợp pháp. Họ thường không có giấy tờ đi lại hoặc giấy tờ tùy thân nên có thể không có khả năng nhập cảnh lại quốc gia gốc. Nạn nhân rất cần nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan hữu quan trong việc hồi hương và tái hòa nhập cộng đồng.
Hàng năm chính phủ các nước Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam tổ chức cuộc họp về nạn buôn bán người. Đây là một động thái tích cực vì nó không chỉ thể hiện cam kết của chính phủ các nước đấu tranh phòng chống tệ nạn này mà còn thể hiện rõ tính minh bạch ngày một tăng trước một thực tế vốn được coi là một vấn đề nhạy cảm, không được thông tin rộng rãi. Động thái này cũng cho thấy thái độ sẵn sàng gánh vác trách nhiệm của chính phủ các nước trên. Ở Việt Nam, trung tâm Afesip – quận 3, thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng với mục đích trợ giúp tinh thần, vật chất cho các đối tượng phụ nữ, trẻ em là nạn nhân của việc buôn bán qua nước ngoài để bóc lột tình dục khi trở về tái hòa nhập cộng đồng.
6 Công tác này diễn ra như thế nào? Những khó khăn, trở ngại khi trợ giúp nạn nhân tái hòa nhập cộng đồng là gì? Những hạn chế trong công tác này? Đề tài mong muốn từ góc nhìn của công tác xã hội để phân tích những vấn đề trên. Đó là lý do tôi chọn đề tài này. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung : Tìm hiểu thực trạng công tác tái hòa nhập cộng đồng với phụ nữ là nạn nhân của đường dây buôn bán người qua nước ngoài để bóc lột tình dục. Mục tiêu cụ thể : Tìm hiểu thực trạng công tác tiếp nhận, trị liệu, phục hồi tâm lý cho phụ nữ là nạn nhân của đường dây buôn bán người qua nước ngoài để bóc lột tình dục tại Trung tâm Afesip.
Ngoài ra, đề tài còn hướng tới tìm hiểu hoạt động của công tác tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, cụ thể là công tác hồi gia, hướng nghiệp thông qua việc xác định nguồn vốn xã hội và vốn con người của phụ nữ bị buôn bán trở về. Trên cơ sở phân tích thực trạng, đề tài sẽ chỉ ra những khó khăn và cách giải quyết của nhân viên công tác xã hội khi làm việc với nhóm đối tượng đang bị tổn thương này. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác tái hòa nhập cộng đồng với phụ nữ là nạn nhân của đường dây buôn bán người qua nước ngoài để bóc lột tình dục. Khách thể nghiên cứu Đề tài hướng đến nhóm khách thể chính là những phụ nữ có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên.
Những phụ nữ này là nạn nhân của việc buôn bán người qua biên giới các nước Campuchia, Lào, Đài Loan nhằm mục đích bóc lột tình dục. Họ đã trở về Việt Nam và đang được trung tâm Afesip tiếp nhận, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng. Ngoài ra, đề tài còn hướng đến các nhóm khách thể khác như : - Những phụ nữ trên 18 tuổi, là nạn nhân của việc buôn bán người, đã được trung tâm Afesip trợ giúp hòa nhập cộng đồng từ trên 6 tháng. 7 - Người thân của những phụ nữ là nạn nhân của việc buôn bán người.
- Các nhân viên đang làm việc tại trung tâm Afesip. - Một số cán bộ, nhân viên làm việc ở địa phương, các cơ sở, trung tâm liên kết với trung tâm Afesip trong việc hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ. Thời gian nghiên cứu Bắt đầu thực hiện xây dựng đề cương, triển khai thu thập thông tin thực địa, phân tích số liệu và viết báo cáo từ tháng 03/2011 đến tháng 12/2011. Nội dung nghiên cứu - Nội dung 1: Thực trạng công tác tiếp nhận, trợ giúp, phục hồi tâm lý cho phụ nữ là nạn nhân của đường dây buôn bán người qua nước ngoài để bóc lột tình dục tại Trung tâm Afesip.
- Nội dung 2: Phân tích cụ thể tiến trình hỗ trợ phụ nữ tái hòa nhập cộng đồng ở Trung tâm thông qua việc xác định nguồn vốn xã hội và vốn con người của những phụ nữ bị buôn bán trở về, những khó khăn các nhân viên Trung tâm gặp phải trong tiến trình này và cách thức giải quyết khó khăn của họ. - Nội dung 3: Trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá hiệu quả hoạt động của Trung tâm, tác giả đề tài đề xuất chương trình hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ là nạn nhân được hiệu quả hơn. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu đề tài: “Công tác tái hòa nhập cộng đồng với phụ nữ là nạn nhân của đường dây buôn bán người qua nước ngoài để bóc lột tình dục” tại Trung tâm Afesip có ý nghĩa khoa học rất lớn. Trước hết, đề tài nghiên cứu chỉ ra việc vận dụng những kiến thức chuyên ngành Xã hội học: Xã hội học gia đình, Giới và phát triển, Dư luận xã hội.
Các kiến thức về ảnh hưởng của dư luận xã hội trong việc phụ nữ sau khi bị lừa gạt để bóc lột tình dục hồi gia, 8 tái hòa nhập cộng đồng đối với chuyên ngành Dư luận xã hội. Ngoài ra, đề tài còn vận dụng kiến thức chuyên ngành Công tác xã hội: Công tác xã hội với cá nhân (công tác với phụ nữ bị bóc lột tình dục, với người thân của họ), Công tác xã hội nhóm (các Hội, câu lạc bộ tại địa phương, cộng đồng nơi chị em phụ nữ tái hòa nhập), Tổ chức và phát triển cộng đồng thôngq ua việc xây dựng mạng lưới dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ. Thứ hai, thông qua vận dụng những kiến thức nêu trên vào thực tiễn, và trên cơ sở những kết quả nghiên cứu thu được, tác giả mong muốn có thể bổ sung cho hệ thống những kiến thức chuyên ngành Xã hội học và Công tác xã hội về lĩnh vực phụ nữ bị bóc lột tình dục trong xã hội bằng cách làm giàu thêm ví dụ sinh động từ thực tiễn và hướng giải quyết.