CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRUNG TÂM DỮ LIỆU Chương này sẽ trình bày khái quát về tầm quan trọng, đặc điểm kiến trúc mạng trung tâm dữ liệu. Tiếp đó sẽ trình bày về viễn cảnh của trung tâm dữ liệu trong tương lai và các vấn đề quan trọng đặt ra đối với các mạng trung tâm dữ liệu. Đây sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu, ứng dụng các chuyển mạch quang trong các mạng trung tâm dữ liệu, cũng như đề xuất kiến trúc nút chuyển mạch quang cho các mạng trung tâm dữ liệu tương lai được trình bày trong các chương tiếp theo. Giới thiệu chung Trong vài năm qua, các ứng dụng tập trung vào dữ liệu như phát trực tuyến video độ nét cao, mạng xã hội, điện toán đám mây, kết hợp với sự phổ biến rộng rãi của các thiết bị di động như điện thoại thông minh hay máy tính bảng đã góp phần vào sự phát triển nhanh chóng của lưu lượng truy cập vào Internet.
Trung tâm dữ liệu đã tạo thành một thiết lập quan trọng của Internet ngày nay và đã cung cấp vô số các dịch vụ từ mạng xã hội đến các phép tính khoa học quy mô lớn [1]. Mặt khác, công nghệ quang học có khả năng cung cấp băng thông truyền thông lớn đang được sử dụng sâu rộng trong truyền thông toàn cầu hiện nay phải đối mặt với việc trao đổi dữ liệu đang ngày càng gia tăng theo thời gian. Toàn bộ thế giới được kết nối bằng cáp quang xuyên lục địa và liên kết quang học với dung lượng tổng hợp lên đến 1 tỷ bit/s. Hơn nữa, việc triển khai công nghệ cáp quang đến tận nhà (FTTH) trong mạng truy cập đang ngày càng tăng lên đã mở rộng tốc độ truy cập dữ liệu lên đến hàng Gb/s – đã trả lời cho nhu cầu kết nối tốc độ cao của 4 người dùng.
Hay nói cách khác, công nghệ quang học đang đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các dịch vụ mới nổi có sẵn cho người dùng: đó là các trung tâm dữ liệu. Một trung tâm dữ liệu (DC) thực tế bao gồm các thiết bị như: máy chủ (máy chủ web, máy chủ ứng dụng và máy chủ cơ sở dữ liệu), thiết bị chuyển mạch và các thiết bị lưu trữ dự liệu – tất cả được kết nối với nhau bằng một mạng kết nối phức tạp. Các tài nguyên phần cứng và phần mềm khổng lồ có sẵn trong cơ sở dữ liệu này cho phép có thể cung cấp nhiều dịch vụ cùng lúc. Nhìn chung, có thể nói rằng các trung tâm dữ liệu quản lý, xử lý và trao đổi các dữ liệu và thông tin số.
“Trung tâm dữ liệu có thể được định nghĩa là siêu trung tâm tài nguyên máy tính và lưu trữ giao tiếp rộng rãi với nhau để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng” – theo Habib và các cộng sự, 2012. Khối lượng các dữ liệu khổng lồ đó được di chuyển đến và đi từ các trung tâm dữ liệu để đáp ứng yêu cầu của người dùng, và những thứ này chỉ đại diện cho một phần nhỏ trong tổng lưu lượng do các hệ thống này xử lý. Nghiên cứu về chỉ số dịch vụ đám mây toàn cầu của Cisco tiết lộ rằng: hơn 75% lưu lượng do trung tâm dữ liệu xử lý là lưu lượng nội bộ. Một lượng lớn các luồn được tạo ra để phân tán khối lượng công việc giữa các máy chủ để xử lý song song trong việc đọc/ghi, sao chép và sao lưu dữ liệu đến và đi từ các cơ sở lưu trữ.
Lưu lượng từ trung tâm dữ liệu đến người dùng chỉ đóng góp cho 7% trong tổng số dữ liệu trao đổi. Kết quả là trung tâm dữ liệu được xây dựng bởi các nhà cung cấp dịch vụ lớn đã đạt đến tỷ lệ lớn để duy trì nhu cầu dịch vụ lớn của người dùng [2]. Các trung tâm dữ liệu là cơ sở hạ tầng CNTT-TT, do đó cần được xem xét lại về mặt thiết kế kết nối để hỗ trợ các trung tâm dữ liệu quy mô rất lớn trong khi vẫn dẫn đầu để tiết kiệm năng lượng tối ưu. “Sự gia tăng của điện tích đám mây và các ứng dụng web mới nổi khác đã tạo ra cần phải có các trung tâm dữ liệu quy mô mạnh mẽ hơn.
Các trung tâm dữ 5 liệu này bao gồm hàng trăm nghìn máy chủ cần giao tiếp với nhau thông qua mạng kết nối liên thông hiệu suất cao và độ trễ thấp”, theo Kachris và các cộng sự, 2013. Với tốc độ phát triển nhanh của các ứng dụng Internet, các trung tâm dữ liệu đã chứng kiến nhu cầu để lưu trữ ngày càng nhiều hơn, sức mạnh tính toán và băng thông truyền thông. Trong môi trường viễn thông này nay, hàng ngàn máy chủ rất thường gặp trong các hệ thống trung tâm dữ liệu lớn. Trong báo cáo khảo gần đây do Cisco đưa ra, lưu lượng trung tâm dữ liệu trên toàn thế giới hàng năm dự kiến đạt đến vài zetta-byte.
Trong tương lai gần, lưu lượng dữ liệu được tạo ra giữa các trung tâm dữ liệu và trong trung tâm dữ liệu dự kiến sẽ phát triển một cách chuyên sâu. Sự gia tăng lưu lượng truy cập này sẽ tạp ra nhu cầu về hiệu suất cao các công nghệ và kiến trúc mạng cho các mạng trung tâm dữ liệu nội bộ và liên trung tâm. Bên trong mạng trung tâm dữ liệu hiện nay, thách thức lớn nhất trong việc thiết kế dữ liệu trung tâm là tiêu thụ điện năng của cơ sở hạ tầng, chủ yếu là do liên kết chi phí hoạt động. Và theo các nghiên cứu liên quan, trung tâm dữ liệu mạng tiêu thụ khoảng 10 – 20% tổng mức tiêu thụ của CNTT các địa điểm trung tâm, và con số này dự kiến sẽ sớm tăng lên trong tương lai gần.
Khi lưu lượng truy cập mạng trong mạng trung tâm dữ liệu tiếp tục phát triển, vì vậy nó rất khó quản lý lưu lượng truy cập thông qua các liên kết ethernet. Theo báo cáo khảo sát gần đây được ra bởi Cisco, lưu lượng truy cập IP của trung tâm dữ liệu toàn cầu sẽ tăng gấp ba lần trong giai đoạn 2018– 2023. Điều này đo lường tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm vào khoảng 25% (tăng từ 220 exabyte mỗi tháng trong năm lên 648 exabyte). Các thiết kế phân cấp không thể hỗ trợ các hệ thống trung tâm dữ liệu lưu lượng lớn ngày càng tăng sẽ được trang bị nhiều máy chủ hơn và cũng có nhiều lõi vi xử lý hơn trên mỗi máy chủ [2].
Cấu trúc của trung tâm dữ liệu Một trung tâm dữ liệu quy mô lớn có thể chứa hàng trăm nghìn máy chủ. Vì vậy có thể hình dung cấu trúc nội bộ của trung tâm dữ được mô tả như kiểu kiến trúc sơ đồ hình cây như trên hình 1. 1: Sơ đồ cấu trúc “hình cây” của trung tâm dữ liệu Trong mô hình cấu trúc trên hình 1.1 thì máy chủ được phân thành các nhánh (các giá) và các nhánh nhóm lại với nhàu tạo thành cụm. Các máy chủ trong cùng một nhánh được kết nối với nhau bằng thiết bị chuyển mạch đầu giá (TOR), trong khi kết nối giữa các nhánh và giữa các cụm ở phân cấp bậc thứ 2 của trung tâm dữ liệu.
Tuỳ thuộc và kích thước của trung tâm dữ liệu thì các nhánh có thể xuất hiện nhiều hơn trong các cụm. Mô hình kiến trúc này có hai ưu điểm, đó là nó có thể dễ dàng mở rộng và chịu được lỗi (một thiết bị TOR thường được kết nối với hai hoặc nhiều cụm máy chủ). Tuy nhiên, cấu trúc liên kết này cũng có một số nhược điểm đó là cần phải có số lượng các liên kết kết nối với nhau nhiều hơn. Hơn nữa, việc chuyển đổi quá trình là chuyển mạch gói điện tử trong khi các máy chủ và các liên kết chuyển mạch 7 sang công nghệ chuyển mạch quang.
Nguyên nhân chủ yếu là do bộ thu phát quang – điện (O – E) và điện – quang (E – O), năng lượng tiêu thụ bởi các loại chuyển mạch điện tử như bộ chuyển mạch, bộ đệm hay bộ nối tiếp/khử tốc độ cao. Điều này làm cho máy chủ đặt trong các nhánh khác nhau bị ảnh hưởng bởi độ trễ liên kết. Các gói chuyển mạch trong trung tâm dữ liệu trải qua nhiều chuyển đổi O – E và E – O, độ trễ bị ảnh hưởng bởi thời gian chuyển tiếp xử lý tại mỗi nút chuyển mạch. Hơn nữa, có một nút giao tiếp giữa các cấp độ khác nhau của mô hình kiến trúc trung tâm dữ liệu.
Thông thường một giá chứa được tới 40 máy chủ, trong khi một bộ chuyển đổi TOR thường sử dụng được cho 48 cổng, do đó chỉ một phần băng thông chuyển mạch TOR có sẵn cho việc truyền thông giữa các rack, hạn chế khả năng của việc liên lạc băng thông giữa các nhánh hoặc các cụm khác nhau [3]. Viễn cảnh của trung tâm dữ liệu trong tương lai Trong bối cảnh số lượng các trung tâm dữ liệu để duy trì các dịch vụ ngày càng gia tăng, kéo theo đó là yêu cầu tương tác mạnh mẽ giữa các máy chủ và khả năng tính toán cũng ngày càng tăng lên cùng với yêu cầu về kết nối nguồn phải hiệu quả hơn. Về mặt lý thuyết, việc tối giản bớt mạng nội bộ trung tâm dữ liệu, cung cấp băng thông hai chiều đầy đủ giữa các máy chủ sẽ giải quyết được các vấn đề vừa nêu ở trên. Các vấn đề về mô hình cấu trúc liên kết dạng sơ đồ cây của trung tâm dữ liệu hiện đang được sử dụng sẽ tối đa hoá việc chia sẻ tài nguyên cũng như hiệu suất làm việc của trung tâm dữ liệu.
Việc có thể kết nối từng máy chủ với bất kỳ đối tượng nào khác cũng sẽ làm giảm thiểu độ trễ và giảm số lượng kết nối về mạng có dây cần thiết của các thiết bị. Tuy nhiên, việc sử dụng các thiết bị chuyển mạch gói quang (OPS) trong quá trình chuyển mạch có thể là một giải pháp cá giá trị trong trường hợp này; vì nó cung cấp băng thông cao hơn, độ trễ thấp hơn và giảm được sự tiêu thụ năng lượng [4]. Với gói quang nghìn cổng tốc độ cao thì hoàn toàn có thể được sử dụng để “làm phẳng” mạng nội bộ của trung tâm dữ liệu ở lớp cụm, như mô tả ở hình 1.2: Sơ đồ mô phỏng mạng nội bộ trung tâm dữ liệu sử dụng OPS ở lớp cụm Với kiến trúc được mô tả như trên hình 1.2 sẽ dẫn đến được những cải tiến đáng kể về hiệu suất, băng thông liên lạc cũng như độ trễ và sẽ góp phần làm giảm các chi phí liên quan đến năng lượng của mạng trung tâm dữ liệu.