CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI Tình trạng nghèo đói hiện nay đang trở thành một vấn đề hết sức nóng bỏng đối với các quốc gia bởi lẽ, quá trình toàn cầu hoá và tác động của thương mại quốc tế không những vừa đem lại những lợi ích kinh tế cho một bộ phận dân chúng nhưng mặt khác nó cũng làm gia tăng khoảng cách chênh lệch trong thu nhập giữa các nhóm lợi ích trong xã hội. Tình trạng đói nghèo cao luôn là nguyên nhân gây bất ổn về kinh tế - xã hội - chính trị của một quốc gia, làm cản trở quá trình phát triển của nền kinh tế các quốc gia, xét trên khía cạnh dài hạn và hậu quả để lại thì lâu dài và mức độ tổn thất của nền kinh tế quốc gia sẽ gia tăng theo thời gian nếu vấn đề nghèo đói không được giải quyết sớm và có chính sách dài hạn và hợp lý trong công tác xoá đói giảm nghèo. Nghèo đói không phải là một vấn đề gì mới mẻ với mọi quốc gia.
Giải quyết nạn nghèo đói trở thành vấn đề xuyên suốt trong các chương trình hành động của các chính phủ. Nghèo đói gây cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội, và kìm hãm nguồn lực của quốc gia khi sức sản xuất không có đủ điều kiện để phát triển, và các quỹ phúc lợi của xã hội phải chia sẻ để hỗ trợ cho những khu vực có mức thu nhập thuộc loại nghèo. Nghèo đói dai dẳng, rộng khắp khiến sức mua của xã hội và tổng cầu bị giới hạn, đường giới hạn khả năng sản xuất bị thu hẹp, khó có khả năng mở rộng do các nguồn lực bị bó buộc trong vòng luẩn quẩn của nghèo đói mà không thể tận dụng hết. Nạn nghèo đói thường tập trung ở những vùng sâu vùng xa, hay các vùng nông thôn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, giao thông khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, và người dân luôn thiếu vốn để đầu tư mở rộng sản xuất.
Đói nghèo đi liền với tình trạng là mức sống thấp, thậm chí cực khổ; môi trường sống xuống cấp; tài nguyên xung quanh môi trường sống bị tàn phá để kiếm nguồn tư liệu sinh hoạt và sản xuất phục vụ cho kế sinh nhai của họ (vì nhu cầu thiết thân nhất của những người thuộc diện nghèo đói là lương thực) do phương thức sản xuẩt chủ yếu là giản đơn và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Cũng do phương thức sản xuất phụ thuộc quá lớn vào thiên nhiên nên những người thuộc diện đói nghèo là những người dễ bị tổn thương nhất trước các biến động của thời tiết và môi trường. Trên Thế Giới, sau nhiều năm phát triển kinh tế, chỉ có một số it các quốc gia đạt được mức phát triển cao về thu nhập và mức sống, tuy không phải là không có sự bất bình đẳng về thu nhập, nhưng nhìn chung, mức sống của người dân của những quốc gia thuộc hàng phát triển nhất Thế Giới cũng là rất cao so với thu nhập của đại bộ phận dân cư còn lại của Thế Giới, mà đa số này năm ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chính vì đa số dân cư của các quốc gia này là thuộc dạng nghèo đói nên các chính phủ ở các nước này đã đề ra các chương trình thực hiện nhằm cải thiện và nâng cao mức sống của người dân, nhất là những người dân thuộc diện nghèo khổ nhất, tái phân phối lại thu nhập quốc dân theo hướng công bằng hơn giữa các nhóm dân cư.
Muốn đạt được mục tiêu đó, trước hết, chúng ta cần tìm hiểu bản chất của nghèo đói. Các định nghĩa về nghèo đói Nghèo đói là một phạm trù chỉ tình trạng, người dân đang ở trong một hoàn cảnh mà trong hoàn cảnh đó, họ không được đáp ứng đủ các tiêu chuẩn sống tối thiểu và họ có nhu cầu về các yếu tố cần thiết tối thiểu để duy trì sự sống và tồn tại nhưng không được đáp ứng hoặc sự đáp ứng là không đủ so với nhu cầu tối thiểu đó. Phạm trù nghèo đói gồm 2 phần chính là: nghèo và đói. Định nghĩa chung về nghèo Nghèo - diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định.
- Các định nghĩa khác về Nghèo: + Nghèo tuyệt đối Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng so với các thành phần còn lại trong xã hội. Sự nghèo tuyệt đối để chỉ một cá nhân hay một hộ gia đình có mức thu nhập dưới mức thu nhập để đảm bảo được những nhu cầu cần thiết của cuộc sống và không có đủ tiền để chu cấp cho những hàng hoá và dịch vụ thiết yếu như: ăn, mặc, ở. Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày/người theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối.
Trong những bước sau đó, các giá trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. + Nghèo tương đối Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối đo lường quy mô, theo đó một hộ gia đình được coi là nghèo nếu nguồn tài chính của họ thấp hơn một ngưỡng thu nhập được xác định là chuẩn nghèo của xã hội đó. Chuẩn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội.
Một ngưỡng hay được dùng để đo lường nghèo tương đối trong chính trị và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình đầu người trong một nền kinh tế (Từ năm 2001 trong các nước thành viên của Liên minh châu Âu những người được coi là nghèo khi có ít hơn 60% giá trị trung bình của thu nhập ròng tương đương). Lý luận của những người phê bình cho rằng con số này trên thực tế cho biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống của con người do khi thu nhập đồng loạt tăng hoặc giảm thì tỷ lệ người nghèo vẫn không đổi mặc dù thu nhập của họ có thay đổi. Những ai hiện tại có ít hơn 50% của thu nhập trung bình thì cũng vẫn có ít hơn 50% của trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần. Vì thế những người đó vẫn còn là nghèo tương đối.
Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của thì sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương đối trong một nước. Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người không nghèo có thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không có thay đổi. Vì vậy, trong ngưỡng nghèo tương đối có pha trộn cả vấn đề phân phối thu nhập. Vì trên thực tế, không có sự phân định rõ ràng giữa nghèo và giàu nên ngưỡng nguy cơ nghèo cũng hay được dùng thay cho ngưỡng nghèo tương đối.
+ Định nghĩa theo tình trạng sống: Định nghĩa Nghèo theo tình trạng sống lưu ý đến những khía cạnh khác ngoài thu nhập, khi định nghĩa "nghèo con người", thí dụ như cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc cũng đã đưa ra chỉ số phát triển con người (tiếng Anh: human development index–HDI). Các chỉ thị cho HDI bao gồm tuổi thọ dự tính vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trình độ học vấn, sức mua thực trên đầu người và nhiều chỉ thị khác. Trong "Báo cáo phát triển thế giới 2000" Ngân hàng Thế giới đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng.
Định nghĩa về Đói Đói là trạng thái con người không được đáp ứng đủ nhu cầu lương thực tối thiểu để cung cấp năng lượng duy trì sự sống cho cơ thể. Người bị đói có nhu cầu và khao khát được ăn. Nguyên nhân gây ra nghèo đói 1. Kinh tế + Phân phối thu nhập không công bằng Sự phân phối thu nhập không công bằng là do các nguyên nhân như: cơ hội tiếp cận các nguồn lực sản xuất, khả năng được sử dụng các nguồn lực sản xuất vào mục đích kinh tế giữa các nhóm dân cư là khác nhau, cũng như quá trình tích luỹ các nguồn lực đó trong xã hội, và hệ quả của quá trình cạnh tranh trong kinh tế thị trường dẫn tới một tình trạng là một lượng lớn nguồn lực trong xã hội được phân bổ (hoặc chuyển giao) vào tay một bộ phận dân cư có lợi thế nhờ quy mô, trong khi bộ phận lớn dân cư còn lại không có hoặc phải chuyển giao các nguồn lực do thất bại trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế trước đây.
Do sự phân bổ các nguồn lực để sản xuất không công bằng đó mà người nghèo không có hay thiếu nguồn lực sản xuất dẫn tới thu nhập của họ là không cao hoặc quá thấp so với mức thu nhập chung của toàn xã hội. Một nhóm dân cư trong xã hội bị bần cùng hoá và trở nên nghèo đói. Đó chính là vấn đề công bằng xã hội bị mất cân đối. Để khảo sát vấn đề công bằng xã hội, người ta sử dụng các thước đo sau: Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư Đường cong Lorentz Hệ số Gini Chỉ số nghèo khổ *) Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư: tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong một thời gian nhất định, không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập và môi trường sống của dân cư, mà chia đều thu nhập cho mọi thành phần dân cư.
Phương pháp tính là người ta chia dân số thành 5 nhóm người, mỗi nhóm có 20% dân số, sau đó xếp theo thứ tự từ thấp đến cao về thu nhập.